36phophuong.vn     
Trang chủ
Xa lộ thông tin
Cuộc sống
Thăng Long-Hà Nội
Phố Hà Nội
Nét văn hóa
Những giá trị bảo tồn
Cải tạo, tu bổ, bảo tồn
Quy hoạch - Đô thị
Địa lý- phong thủy
Diễn đàn
Người đẹp
Thời trang
Du lịch
Sức khỏe
Ẩm thực
thư giãn
Mỹ thuật
Góc học tập
 Di sản đô thị
 Di sản kiến trúc,cảnh quan
Trang ảnh xưa
Góc chụp ảnh
Trang chủ > Góc học tập > Di sản đô thị >
  Duy trì di sản đô thị trong phát triển các thành phố cũ Duy trì di sản đô thị trong phát triển các thành phố cũ , 36phophuong.vn
 
Duy trì di sản đô thị trong phát triển các thành phố cũ

 Tôi chủ định dùng cụm từ “thành phố cũ” bởi xét từ di sản đô thị hiện hữu, ở ta hầu như chỉ có những “đô thị cũ”.

Bài viết được trình bày theo các nội dung:
 
Một vài quan niệm;
Sơ lược về đô thị Việt trong lịch sử;
Phân loại các di sản đô thị;
Hiện trạng duy trì các di sản đô thị;
Một vài gợi ý duy trì các di sản đô thị trong phát triển các thành phố cũ.
 
1. Trước tiên, cần nhận rõ sự khác biệt giữa “tài sản đô thị”, “quỹ kiến trúc đô thị” và “di sản đô thị”.
 
Tài sản đô thị bao gồm đất đai đô thị hóa, các hệ thống hạ tầng kỹ thuật và quỹ kiến trúc đô thị, tạo nên thực thể, tính chất cùng diện mạo của mỗi thành phố, là tài nguyên và động lực cho sự phát triển của nó.
 
Quỹ kiến trúc đô thị đặc trưng bởi: Di sản đô thị, di tích kiến trúc và di sản tồn đọng.
 
Di sản đô thị là một phức hợp vật chất – kiến trúc – xã hội, hình thành trong quá trình tiến hóa của mỗi thành phố, định hình về phương diện hình thái kiến trúc – cảnh quan, về phương diện văn hóa thị thành, có những giá trị lịch sử – văn hóa – kiến trúc cùng giá trị vật chất – kỹ thuật, cần được duy trì với tư cách là những điểm tựa – điểm xuất phát và nguồn gien trong sự phát triển nối dòng của thành phố.
 
Di tích kiến trúc là những quần thể, những công trình kiến trúc đơn lẻ, có những giá trị đặc biệt về niên đại, loại hình, kỹ thuật xây dựng, kiến trúc – mỹ thuật và cảnh quan, được công nhận theo Luật di sản và trùng tu bảo tồn theo Luật này. Ngoài di tích kiến trúc, ở các thành phố cũ còn hiện diện những di tích lịch sử, được công nhận bởi Luật Di sản, do có những giá trị là dấu tích, là chứng nhân của những sự kiện và những tiếp biến lịch sử.
 
Di sản tồn đọng là khái niệm do tác giả bài viết này đưa ra, chỉ những tích lũy kiến trúc đô thị, nảy sinh và định hình trong những hoàn cảnh lịch sử đặc biệt về các phương diện kinh tế – xã hội – xây dựng, đối ngược với di sản đô thị có những giá trị nổi trội. Di sản tồn đọng thuộc diện đào thải trong sự phát triển của thành phố, song không dễ gì. Để làm rõ, xin nêu trường hợp những làng cũ ở Hà Nội, đã và đang đô thị hóa một cách tự phát, do đó mà lâm vào thế bế tắc trong việc cải tạo nhằm hòa nhập với cơ thể đô thị hiện đại; các khu tập thể từ thời kinh tế kế hoạch hóa, khó bề ứng xử không chỉ từ phương diện quy hoạch và xây dựng, cũng có thể coi là những tồn đọng đô thị.
 
 
Quan sát những tài sản đô thị ở Việt Nam, ta nhận ra, có những thành phố cũ sở hữu một hoặc vài thành phần được liệt vào diện di sản đô thị, những vốn liếng cần được bảo lưu. Lại có những thành phố, kiệt xuất, vẫn hiển hiện như những thực thể thống nhất và trọn vẹn, qua mọi chặng đường lịch sử, qua mọi biến đổi về quy hoạch và kiến trúc. Những thành phố như vậy chỉ có thể mệnh danh là: “Đô thị di sản” (city heritage). Trong một loạt bài viết (đọc trong cuốn “Văn hóa kiến trúc”, NXB Tri Thức, 2012 và các bài in trong kỷ yếu hội thảo về phát triển Huế), tôi đã căn cứ hóa việc quy nạp thành phố Huế vào diện đô thị di sản. Tôi cũng đã thử việc ấy với Đà Lạt. Tiếc thay, với những gì nhìn thấy, thành phố này đang được kiến tạo thành trung tâm mở mang toàn diện hàng tỉnh, như ở mọi tỉnh.
 
Về phương diện đô thị học lịch sử, chúng ta cho đến nay vẫn chưa làm rõ được 3 vấn đề:
 
Đô thị Việt xuất hiện từ giai đoạn lịch sử nào và nó có hình thái ra sao?
 
Tiến trình mở mang, xây dựng đô thị ở nước ta diễn ra như thế nào?
 
Nghệ thuật kiến tạo đô thị Việt Nam đã thực sự hình thành chưa và khẳng định ở giai đoạn lịch sử nào, và với những đặc trưng nào?
 
Do những hoàn cảnh lịch sử nào đó, hoặc do sự thiếu bền vững mà chúng ta sở hữu vẻn vẹn những vết tích dưới lòng đất của những công trình xây dựng, ít nhiều gợi mở về sự tồn tại của những cấu trúc đô thị xa xưa. Chúng ta hầu như chỉ sở hữu, thực chất và thị sở, những thực thể khá mảnh dẻ của các đô thị Việt từ thế kỷ 19 trở về sau.
 
Khi đọc các tài liệu nghiên cứu lịch sử đô thị và phát hiện sự khẳng định về sự tồn tại đô thị bên cạnh thành Cổ Loa thời An Dương Vương Thục Phán thế kỷ thứ 3, hoặc về sự tồn tại đô thị có từ thời Bắc thuộc, ta không khỏi phân vân và hoài nghi. Quả thực, bàn về đô thị dù từ góc độ lịch sử, vẫn cứ nên đi từ những thực thể hữu tồn. Từ những thực thể ấy, người viết thiên về ý nghĩ: Trong nền văn minh cộng cư, người Việt đã thực sự làm chủ 2 thiết chế xã hội và kiến trúc, đó là làng và phố. Làng là sản phẩm hữu cơ của địa bàn sinh thái tự nhiên, của nền nông nghiệp lúa nước và đặc biệt là của chế độ phong kiến bền vững. Nó là một thiết chế xã hội nông thôn – nông dân tự tại và khép kín, gắn kết và ổn định hầu như bất biến các quan hệ đan xen: Cai trị – đời sống – sản xuất – dòng tộc – cộng đồng – tín ngưỡng… với cấu trúc công năng: Không gian làng, với đơn vị cư trú dạng khuôn viên, đa năng và khép kín. Phố là một thiết chế cộng cư, chiếm ngự bởi những người dân cày, thoát ly một phần hoặc hoàn toàn, khởi nghiệp đồng áng và chuyển sang nền “kinh tế” buôn bán, gia công và thu gom hàng hóa. Nền kinh tế nhỏ lẻ và manh mún ấy, trên chặng đường chuyên nghiệp hóa toàn phần, dần dà tạo tác thành nếp sống, nếp làm ăn, nếp cư xử khác biệt với nông thôn. Cho đến nay, sau vài chục năm đô thị hóa dồn dập, ta không thể không nhận ra sự hiện hữu của những tàn dư tư duy “phố”, và sự bảo lưu hình ảnh của những con phố thời chưa xa. Phố, có lẽ là một sự chuyển tiếp dài, từ làng sang thành phố. Ta tìm thấy sự đặc sắc của đô thị Việt từ đây, ta cũng nên lấy đây làm sự tự hạn chế, để hướng tới đô thị hội nhập hóa.
 
2. Chúng ta thực hiện phân loại (làm rõ các loại hình) các di sản đô thị, dựa trên những quỹ kiến trúc đô thị từ quá khứ ở các thành phố cũ, hình thành cách nay không quá 2-3 thế kỷ.
 
Theo tiêu chí niên đại;
Theo tiêu chí công năng;
Theo tiêu chí quỹ kiến trúc đô thị hiện hữu;
 
Phân loại di sản đô thị theo tiêu chí niên đại. Tôi muốn tránh đề cập tới những đối tượng chắc hẳn có niên đại từ xa xưa, song không còn vết tích chứng minh cho sự tồn tại thực sự của chúng. Như trường hợp kinh thành Thăng Long chẳng hạn: Tất cả những bằng chứng phát hiện gần đây, dù đầy đủ hơn, cũng chỉ làm chắc hơn nhận thức về sự tồn tại của hệ thống thành lũy và hệ thống các kiến trúc cung đình từ thời Đại La đến Triều Lý và tiếp theo. Tuy nhiên, nói về di sản đô thị Hà Nội, hẳn chỉ nên từ thế kỷ 19, mà ta còn có thể đụng chạm vào. Trường hợp Vân Đồn, Phố Hiến, Phú Xuân, Hội An… niên đại xuất hiện (chắc hẳn là xa xưa), có thể từ thời Lý, thời Trần và thời Hậu Lê, nhưng sự hiện hữu của chúng chỉ thấy trong các nguồn sử liệu, qua các di chỉ khảo cổ học. Có vẻ là chưa thể yên tâm, khi đề cập tới di sản đô thị của phố xá, cảng bến của Phố Hiến, chỉ căn cứ vào một vài công trình tín ngưỡng còn lại. Hội An về phương diện bảo tồn có 2 tư cách: Đô thị cổ Hội An là đối tượng của khảo cổ học và di sản đô thị Hội An hiện hữu, có quỹ kiến trúc có niên đại áp đảo từ thế kỷ 18.
 
Tôi cho rằng, chúng ta không nên quá lụy yếu tố niên đại, mà nên nhận thức cho đúng, cho kịp thời: Các di sản đô thị ở ta tuy có niên đại khá muộn, song chúng là những thực thể sống động. Chính thuộc tính này, khi được nhận thức đầy đủ, sẽ tháo gỡ mâu thuẫn giữa bảo tồn và phát triển, là cái mà ta dựa vào và kế tục cho dòng đời thành phố, chảy không đứt quãng.
 
Chúng ta có thể phân loại các di sản đô thị theo công năng ban đầu của những đô thị ấy. Chẳng hạn, đô thị – trung tâm hành chính, đô thị buôn bán, đô thị giang cảng…
 
Đô thị – trung tâm hành chính chủ yếu là các tỉnh lỵ, hình thành sau sự phân định hành chính rạch ròi dười thời vua Minh Mạng, có sự củng cố, mở mang từ phương diện quy hoạch và kiến trúc, cho dù ở dạng sơ khai. Các đô thị hoặc cấu trúc dạng đô thị của những tỉnh lỵ ấy đều mang tên trùng với đơn vị hành chính tỉnh. Cho đến nay, nhiều trung tâm, tỉnh lỵ mở mang thành thành phố thực thụ, vẫn trùng tên với tỉnh như Nam Định, Thanh Hóa, Hải Dương…
Hầu hết các thành phố cũ đều sở hữu những phức hợp di sản đô thị hỗn hợp và đa năng, có quy mô và vị trí khác nhau trong cơ thể thành phố. Ví dụ: Khu 36 phố phường – khu vực Hồ Hoàn Kiếm – khu phố thời Pháp thuộc ở quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Ví dụ khác: Khu vực trung tâm cũ ở TP HCM hoặc khu vực trung tâm hiện hữu của thành phố Hải Phòng… Những phức hợp di sản đô thị sống động này vẫn đóng vai trò quan trọng trong không gian và hình ảnh của những thành phố, tuy sự tổng cân bằng đang suy suyển về hướng bất lợi cho những di sản hạt nhân này.
 
3. Nhìn nhận hiện trạng của những di sản đô thị trong cơ thể những phố cũ, chúng ta có thể ghi nhận 2 cục diện chính:
 
Thứ nhất, sự suy suyển nghiêm trọng quỹ kiến trúc đô thị, sự biến dạng và giảm sút những giá trị vốn có. Và nguy hại hơn, đó là sự suy giảm vị trí và vị thế của chúng trong cơ thể thành phố phát triển mang tính bùng phát.
 
Thứ hai, sự thiếu phù hợp của các chủ trương, chính sách, chương trình và giải pháp trong việc duy trì (bảo tồn) các di sản đô thị, nhất là trước sự thách thức sinh tử của những nhà đầu tư và của phát triển.
Để làm rõ 2 cục diện trên, ta lấy trường hợp Hà Nội và TP HCM làm ví dụ xem xét.
 
Di sản đô thị 36 phố phường Hà Nội đã chịu sự biến đổi gốc rễ từ trong ra. Đó là: Ngôi nhà mặt phố, vốn là nơi cư trú và làm kinh tế của một gia đình, biến thành nơi cư trú của nhiều gia đình, từ đấy quyền sở hữu bị xáo trộn, căn nhà bị vô chủ hóa. Cùng với đó, người phố cổ, vốn là tiểu thương và thợ thủ công, bị tước bỏ đường làm ăn truyền thống, họ trở thành cán bộ – nhân viên – mậu dịch viên. Quỹ kiến trúc phố thị trở thành quỹ tồn đọng, nền văn hóa thị thành của Hà thành, vốn chưa hẳn sâu và dày, tàn lụi theo. Công cuộc bảo tồn khởi xướng cách đây ngót 30 năm, lại đi theo hướng “di tích hóa” và “bảo tàng hóa”, dẫn đến tình trạng bất khả thi của mọi kế hoạch và mọi giải pháp bảo tồn. Sự bất khả thi có nguyên nhân sâu xa từ nhận thức chưa đủ tính bản chất: Di sản phố cổ là một thực thể sống động, đòi hỏi phải xử lý mềm mại bài toán giữa “đọng” và “chảy”, giữa “níu” và “nối”. Nó tuyệt đối không phải là… kiến trúc.
 
Khu phố thời Pháp ở Hà Nội cũng có thân phận tương tự. Biệt thự và công thự biến thành nhà tập thể và nhà hàng. Tình trạng kỹ thuật và mức độ bảo tồn của công trình bị xuống cấp thậm tệ. Vị trí độc, hiếm của chúng trong thành phố khiến các nhà đầu tư thèm muốn xóa đi để xây buildings mới, thành ra không gian kiến trúc – đường phố nát vụn, mặt mũi biến dạng. Gần đây, có xu hướng nhìn nhận di sản kiến trúc thời Pháp chỉ gồm những biệt thự, đếm đến hàng trăm, cả nghìn đơn vị, quên lãng đi ở Thủ đô và ở TP HCM, hiện hữu cả một “bộ sưu tập” các thể loại công trình, đặc biệt đa dạng mà nền kiến trúc cổ truyền của ta chưa biết đến. Trong trường hợp di sản kiến trúc Pháp, trở ngại lớn nhất cũng như với khu phố cổ, là vấn đề sở hữu. Nếu không giải quyết được bế tắc này, không thể tính tới chuyện giữ lại và tái sử dụng hữu hiệu.
 
Sự phát triển tăng tốc lại càng đe dọa trung tâm cũ – hạt nhân di sản đô thị của TP HCM. Di sản bị triệt tỉa mau lẹ, quy mô thành phố bùng phát mau lẹ. Xem chừng cao ốc Bitexco đang trở thành hình ảnh áp đảo của TP HCM, lọt hẳn vào con mắt và in vào não người đời mất rồi. Ấy vậy mà thành phố này đang rất cần nâng niu bộ nhớ của mình bằng chính di sản đô thị.
 
Khu phố Pháp ở Hải Phòng là một trong những di sản đô thị có trọng lượng và khá nguyên vẹn trong toàn bộ tài sản đô thị ở cả nước ta. Vị thế của nó ở thành phố này càng đặc biệt. Tuy nhiên, di sản hiếm hoi này chưa được giới bảo tồn di sản, giới kiến trúc và giới quản lý đô thị quan tâm.
 
Các thành phố hàng tỉnh như Nam Định, Sơn Tây, Hải Dương, Hạ Long, Quảng Yên… ở phía Bắc; Đồng Nai, Vũng Tàu, Mỹ Tho, Long Xuyên, Cần Thơ, Rạch Giá… ở phía Nam, đang hàm chứa trong mình những hạt nhân – di sản đô thị khiêm nhường. Song, đối với cơ thể của những đô thị ấy, chúng vẫn khá tương xứng. Hễ ta nhìn ra và cảm nhận cho thấu, ta có thể dựa vào đấy để nối dòng, để bồi đắp sắc thái cho từng đô thị.
 
Chúng ta nên ứng xử thế nào với những di sản đô thị, những tài sản – vốn liếng – quỹ gien, của các thành phố cũ?
 
Những câu trả lời có thể là:
 
Nhận thức đúng bản chất của di sản đô thị. Sự khác biệt của chúng với di tích chính là ở sự sống động và khả năng tiếp tục phát triển trong thích ứng. Tránh áp đặt quan niệm và những quy chế không hợp cuộc sống và, bởi vậy, không mang tính khả thi.
 
Các di sản đô thị cần được duy trì lâu dài bởi sự kết hợp nhuần nhị và mềm mại giữa bảo tồn với cải tạo thích ứng và với hiện đại hóa. Việc duy trì những cơ ngơi cũ chỉ có thể khi chúng ta không tách biệt chúng khỏi cơ thể chung của thành phố mới mà cần ngược lại, nối kết chúng vào hệ mạch – dòng chảy chung của chuỗi phát triển.
 
Đối với các thành phố sở hữu di sản đô thị, sự lựa chọn đúng đắn hơn cả là phải phát triển theo bề rộng và chiều sâu: Duy trì – cải tạo và hiện đại hóa, các trung tâm – lõi; mở rộng và xây dựng các khu mới, theo kiểu xen cấy, những tòa nhà cao ốc quá cỡ ở các ô phố cũ, phổ biến ở Thủ đô, ở Huế, ở Đà Lạt, ở TP HCM, chẳng khác gì sự xâm lăng, bức tử các di sản đô thị. Hiện tượng mở toàn bộ các không gian đã định hình từ lâu bởi những trục lộ quá rộng và quá thẳng, đã phá vỡ hệ tỷ lệ xích tinh tế đặc biệt của đô thị di sản Huế. Ở thành phố này, cũng như ở Hà Nội và các thành phố cũ khác, sự chuyển hóa mềm các không gian và hình thái kiến trúc có thể đạt được bằng việc duy trì triệt để và mở rộng các mảng cây xanh, các diện nước cùng các khoảng trống cần thiết. Xu hướng bành trướng các thành phố đã định hình từ lâu tính cách nổi trội của mình, như việc Đà Lạt quy hoạch rộng 3 ngàn km2, Huế rộng ra cả tỉnh… không thể không dẫn tới sự “loãng hóa” tích lũy đô thị và văn hóa thị thành, với di chứng nhãn tiền là hiện tượng nông thôn hóa thành thị.
 
Các di sản đô thị không chỉ là đối tượng của bảo tồn di sản văn hóa. Các di sản đô thị đích thực là nguồn cội, là tài nguyên nhân văn, là tài sản lịch sử không thể chối bỏ trong sự mở mang và hiện đại hóa các thành phố cũ. Hãy để cho những cơ thể, già dặn và đẹp lão ấy, sánh vai cùng những cơ thể trẻ khỏe khác, bước vào tương lai.
Bởi lẽ, đô thị – Tạo tác của muôn đời.
 
 
GS.TS.KTS Hoàng Đạo Kính

36phophuong.vn


  Bình luận của bạn
(*) Họ tên:  
(*) Email:  
(*) Tiêu đề:  
(*) Nội dung:  
Mã: 

Nội dung các bình luận
 

  Các Tin khác
  + Ký họa Chùa Bút Tháp, làng tranh Đông Hồ và lăng Kinh Dương Vương (06/08/2017)
  + UsK HN về Kí Họa với miền quê Xứ Nghệ. (06/08/2017)
  + 8 công trình có kiến trúc khiếm nhã nhất thế giới (28/07/2017)
  + Kiến trúc sư Đan Mạch: Các thành phố cứ quy hoạch để giảm tắc đường là hoàn toàn sai lầm, đây mới là điều họ cần quan tâm (11/07/2017)
  + Học tiếng Anh cùng VOA - (11/07/2017)
  + Bảo tàng Quốc gia Szczecin nhận danh hiệu Công trình Quốc tế của năm 2016 từ WAF (31/05/2017)
  + Cuộc thi sáng tạo KG vui chơi cho trẻ em 2016 – Kết quả và triển vọng (31/05/2017)
  + Khu du lịch “Làng Vũ Đại ngày ấy” được vinh danh Giải Vàng – Giải thưởng Kiến trúc quốc gia 2016 (31/05/2017)
  + Workshop 1 - cảnh quan đô thị lịch sử với phát triển bền vững (Một số ví dụ bài của sinh viên trường Phương Đông) (27/05/2017)
  + Tổ chức không gian nghệ thuật cộng cộng tại Hồ Gươm - Khu phố cổ HN (24/05/2017)
 
 
Trang chủ Nội quy Liên hệ Lên đầu trang  
Xa lộ thông tin    Cuộc sống    Thăng Long-Hà Nội    Phố Hà Nội    Nét văn hóa    Những giá trị bảo tồn    Cải tạo, tu bổ, bảo tồn    Quy hoạch - Đô thị    Địa lý- phong thủy    Diễn đàn    Người đẹp    Thời trang    Du lịch    Sức khỏe    Ẩm thực    thư giãn    Mỹ thuật    Góc học tập    Trang ảnh xưa    Góc chụp ảnh   

vietarch-kiến trúc sáng tạo