36phophuong.vn     
Trang chủ
Xa lộ thông tin
Cuộc sống
Thăng Long-Hà Nội
Phố Hà Nội
Nét văn hóa
 Văn nghệ online
 Văn hóa nghệ thuật
 Văn hóa xã hội
 Văn,thơ,ca dao
Những giá trị bảo tồn
Cải tạo, tu bổ, bảo tồn
Quy hoạch - Đô thị
Địa ốc-phong thủy
Diễn đàn
Người đẹp
Thời trang
Du lịch
Thể thao-Sức khỏe
Ẩm thực
thư giãn
Mỹ thuật
Âm nhạc
Trang ảnh xưa
Góc chụp ảnh
Trang chủ > Nét văn hóa > Văn hóa nghệ thuật >
  Giống lợn quý trong tranh Đông Hồ Giống lợn quý trong tranh Đông Hồ , 36phophuong.vn
 
Giống lợn quý trong tranh Đông Hồ

 Trong bài “Gà lợn trong tranh Đông Hồ”, Nhà nghiên cứu tranh dân gian Phùng Hồng Kổn cho rằng, “nguyên mẫu” con lợn trong dòng tranh này là “lợn ỉ thuần chủng”. Ông viết:

Lợn ăn cây ráy-  Tranh Đông Hồ (St) ---> 
 
“Tranh lợn  có:  Lợn đàn , Lợn độc, Lợn ăn dáy(sic) – tất cả đều béo mũm mĩm  – “mõm gầu giai, tai lá mít, đít lồng bàn”. Những bức tranh lợn được diễn tả bằng ngôn ngữ ước lệ nhưng cũng chứng tỏ các nghệ nhân đã quan sát rất kĩ, nguyên mẫu, đó là giống lợn ỉ thuần chủng. Giống lợn này thường có màu đen hoặc lang hồng, lưng võng, bụng xệ, trên thân thường có những đám lông mọc thành khoáy tròn.” (HTC nhấn mạnh)[1]. 
 
Tuy nhiên, “Mõm gầu giai, tai lá mít, đít lồng bàn/Sừng cánh ná, dạ bình vôi, mắt ốc nhồi”[2], là phép xem tướng trâu, không phải tướng lợn. Ý kiến “giống lợn ỉ thuần chủng” là “nguyên mẫu” của tranh Đông Hồ; hay “giống lợn này thường có màu đen hoặc lang hồng”, cũng cần xem lại. Vì lợn trong tranh Đông Hồ không mang nét điển hình của con lợn ỉ. Mặt khác, đã gọi “lợn ỉ thuần chủng”, chỉ có màu đen, không có “lang hồng”.
 
Nguyễn Bá Vân và Chu Quang Trứ (trong “Tranh dân gian Việt Nam) tuy không xác định giống lợn, nhưng lại đem “bốn khoáy đóng chuồng” tướng trâu, ghép với “lưng đai, bụng bị” của tướng lợn: “Những con lợn nào mà có ba quí tướng: “lưng đai, bụng bị, bốn khoáy đóng chuồng” thì là giống lợn nái tốt…” (dẫn theo Nguyễn Dư).
 
Vậy, “nguyên mẫu” tranh lợn Đông Hồ là giống lợn gì?
 
Sách “Con lợn ở Việt Nam” (PGS. TS. Nguyễn Thiện chủ biên -NXB Nông nghiệp, 2005) cho biết, Việt Nam có trên 60 giống lợn nội, nhưng tất cả các giống đều thuộc họ Suidae, chủng Sus, và loài Sus domesticus. Trong đó, phổ biến nhất có hơn 10 giống: l. Móng Cái (Quảng Ninh); 2. Ỉ (Thanh Hoá, Nam Định); 3. Lang Hồng (Bắc Ninh); 4. Cỏ (miền Trung); 5. Mường Khương (Lào Cai); 6. Mẹo (H’Mông); 7. Thuộc Nhiêu (Tiền Giang); 8. Ba Xuyên (Vị Xuyên-Sóc Trăng); 9. Phú Khánh (Phú Yên, Khánh Hoà); 10. Táp Ná (Cao Bằng); 11. Vân Pa (Vân Kiều-Quảng Trị), v.v…
 
Các giống lợn Cỏ, Mường Khương, Mẹo, Thuộc Nhiêu, Ba Xuyên, Phú Khánh, Táp Ná, Vân Pa, chân to cao, mõm dài, bụng thon, lưng thẳng, mình dài, bờm dựng….mang nhiều nét của lợn rừng. Ta có thể thẳng thừng loại trừ chúng, bởi lợn trong cả ba dòng tranh Đông Hồ, Kim Hoàng, Sình đều không có những đặc điểm này.
 
Chỉ còn ba giống: Móng Cái, Ỉ, và Lang Hồng có đặc điểm giống với lợn trong tranh: mõm ngắn, chân thấp nhỏ, bụng to, lưng hơi võng. Tuy nhiên, trong 3 giống lợn này, Lang Hồng chỉ là tên gọi khác, hoặc họ hàng gần với Móng Cái. Sách “Con lợn ở Việt Nam” cho biết, bằng phương pháp sọ học (cranologie) và phương pháp điện di phân tích máu trên ba giống lợn Landrace, Lang Hồng, Móng Cái và những con lai của chúng, lấy sọ lợn rừng (Sus scrofa) của Viện khảo cổ học làm chuẩn so sánh, Giáo sư Trần Đình Miên, đã xác định “Lợn Lang Hồng ‘gần gũi’ với lợn Móng Cái; có thể Lang Hồng chỉ là tên quen thuộc gọi theo màu sắc da lông”.
 

 Trong thực tế, nếu nói lợn Móng Cái và Lang Hồng là giống lợn đẹp nhất trong các giống lợn Việt Nam thuần chủng cũng không ngoa. Thân mình cân đối, phần lông xám đen pha với lang trắng hồng, mắt đen mở to, khiến chúng có vẻ đẹp như tranh vẽ. Theo đó, lợn trong tranh Đông Hồ giống với lợn Móng Cái và Lang Hồng hơn là lợn Ỉ. Vì Ỉ mõm ngắn đến mức mất cân đối (có con trông như không có mõm), mặt nhăn, mắt híp.
 

 
 Theo lí lịch giống, thì lợn Lang Hồng bản quản ở Bắc Ninh, chính là quê hương của dòng tranh Đông Hồ nổi tiếng. Bởi vậy, chuyện các nghệ nhân dân gian Đông Hồ lấy ngay giống lợn đẹp như tranh ở quê mình làm nguyên mẫu, cũng là điều hoàn toàn hợp lý, dễ hiểu. Và rất có thể, chính những đặc điểm riêng có “Trán đốm trắng, lưng mình hơi võng/ Yên ngựa đen, khoang trắng vắt vai”, của giống Móng Cái và Lang Hồng đã tạo cảm hứng để nghệ nhân dân gian biến nó thành những chiếc khoáy âm dương tài tình, hay cái lang vắt dọc sống lưng đẹp mắt.
 

 
 Lợn trong tranh Kim Hoàng cũng mang đặc điểm “chân cu bụng bị”, nhưng mõm và mình ngắn hơn lợn Đông Hồ nhiều; mặt và bụng lợn Kim Hoàng có nhiều nếp nhăn, rất giống đặc điểm của giống Ỉ thuần chủng. Theo đó, nếu như những cái lang đen trắng điển hình của giống lợn Lang Hồng-Móng Cái, được nghệ nhân Đông Hồ biến thành những vòng xoáy âm dương độc đáo, thì cái mũi chun xấu xí - đặc trưng của giống lợn Ỉ - dưới bàn tay tài hoa của nghệ nhân Kim Hoàng, lại được cách điệu thành hoạ tiết vân mây rất ngộ nghĩnh; đôi mắt híp ti hí, cũng được “biến tấu” thành một chấm nhỏ giữa tròng mắt sáng xoe tròn tinh khôn.
 

 
 Một thông tin thú vị, sách “Đồ họa cổ Việt Nam” (Phan Cẩm Thượng-Lê Quốc Việt-Cung Khắc Lược-NXB Mỹ Thuật, 2000) cho biết, làng tranh Kim Hoàng (Kim Bảng và Hoàng Bảng) Hà Tây, vốn gốc từ Thanh Hóa, di cư ra năm 1701. Mà Thanh Hoá chính là quê hương của giống lợn Ỉ Bùi nổi tiếng: “Ỉ nào mà chả lắm nhăn/Lợn nào mà chẳng hay nằm hay ăn/Ỉ Bùi giống tốt đâu bằng/Chân cu bụng bị, đầu rằng lá khoai”.
 
Nào Ỉ dơi, Ỉ voi; Ỉ mỡ; Ỉ xồm; Ỉ võng; Ỉ pha; Ỉ ré…Thanh Hoá đều có cả (tham khảo “Địa chí huyện Quảng Xương”-Hoàng Tuấn Phổ chủ biên). Rất có thể giống lợn này đã theo chân chủ di cư ra Bắc. Hoặc từ trong tiềm thức, con lợn ỉ xứ Thanh đã bước vào tranh Kim Hoàng như một cách lưu giữ hình ảnh, gợi nhớ về cố hương của những nghệ nhân xa xứ.
 

 Tranh Đông Hồ có ba bức “Lợn đàn”, “Lợn ăn cây ráy”, và “Lợn độc”; tranh Kim Hoàng có hai bức vẽ lợn độc (gần giống nhau). Làng Sình (Huế) có một bức vẽ đôi lợn đen “chân cu bụng bị”, mõm hơi nhọn, đứng đối diện nhau (Có lẽ đây là giống ỉ lai, theo công thức “Mẹ mõm chày, thày (bố) mặt dơi”?). Xét tổng quát, thì chúng đều mang những đặc điểm giống tốt theo tiêu chuẩn chọn giống của nhà nông, mà khoa xem tướng lợn dân gian đã đúc kết thành tục ngữ. Trong đó, tướng phàm ăn là tiêu chuẩn hàng đầu:
 - “Chân cu bụng bị” (dị bản “Chân cu bụng bị thì chỉ có ăn”): Lợn chân nhỏ, bụng to là tướng ăn no ngủ kỹ, lười di chuyển. Điều này rất quan trọng. Vì xưa kia nguồn tinh bột ít, thức ăn của lợn rau bèo là chính; nguồn phân bón cũng chủ yếu trông chờ vào nó. Bởi vậy, con lợn có nhiệm vụ nặng nề là phải “chế biến” rau thành thịt, và “sản xuất” phân bón thật nhiều. Con lợn trong cả ba dòng tranh Đông Hồ, Kim Hoàng, làng Sình đều mang đặc điểm “Chân cu bụng bị” rất rõ nét.
 
-“Đít voi đuôi trâu” (đít/mông nở, khấu đuôi to): Thể hiện đại tràng lớn, bộ máy tiêu hoá tốt, ăn lắm, ỉa nhiều (lợn Đông Hồ rất rõ tướng “đuôi trâu” này). Xưa kia nếu nhà nuôi được con lợn béo, hay ăn chóng lớn, khi xuất chuồng, nông dân thường cắt phần chót lông đuôi ném trở lại chuồng, với ý cầu mong con lợn nuôi sau cũng được béo tốt, ham ăn như con trước.
 

 
  -“Mõm phè phè ăn nghe đôm đốp”: Lợn trong tranh Đông Hồ đều có cái mõm phè phè, hai bên mép bành ra. Loại lợn này khi ăn, tiếng bập mõm xốc cám của nó đôm đốp, cả xóm nghe được. Đặc biệt, bức “Lợn ăn cây ráy” còn thể hiện ý nghĩa: một con lợn giống tốt, phàm ăn, ngoài rau cám nấu chín, còn phải biết chén tất cả các loại rau bèo sống như khoai ngứa, ráy dại, bèo tây…Bởi không phải lúc nào nhà nông cũng sẵn củi lửa và thời gian đun nấu.
 
 -“Mõm phè phè, môi thè lè” (mõm to bè; môi dưới dài hơn môi trên) là tướng phàm ăn. Ngược lại, kị tướng “Mồm dài hơn môi” (môi dưới ngắn, mõm trên chìa ra), hoặc mõm chuột, khảnh ăn, hay đủn máng, phá chuồng.
 
-“Đầu lá khoai, tai lá sòi” (đầu nở, tai tròn) là tướng lợn hiền, dễ nuôi (Tai lợn Kim Hoàng điển hình cho quý tướng này). Chuồng trại xưa kia sơ sài, lợn lại ít khi được no nê, đúng bữa. Nếu phải con lợn hỗn, thì chúng phá phách rất ghê gớm. Bởi vậy, nông dân chuộng lợn hiền. Khi mua lợn về, người ta thường nhờ một người trong xóm (dễ tính, phàm ăn), thả lợn vào chuồng, hy vọng con lợn nhiễm được cái vía tốt của người ấy.
 

 
 -“Vừa cúi đầu cặm cổ, vừa vỗ tay reo” (khi ăn cắm cúi một mạch, tiếng xốc cám bôm bốp như vỗ tay), là tướng phàm ăn, không “kén cá chọn canh”, biết sớm hôm đói no cùng gia chủ. Ngược lại, vừa ăn vừa đủn máng, hút chùn chụt, thỉnh thoảng nghển cổ hít hít, huơ huơ, có ý như trông đợi chủ mang tới đồ ngon hơn, là tướng ăn xấu, không chịu được kham khổ…Trong tranh Đông Hồ, “Lợn đàn” và “Lợn độc” đang đứng trước chậu cám, “Lợn ăn cây ráy” như đang lôi bật gốc cây ráy lên nhai rau ráu; lợn Kim Hoàng con thì đứng trước máng ăn, con đứng trước khóm khoai môn. Tất cả chúng đều mang dáng vẻ sung mãn và con mắt hau háu như sợ ai giành mất thức ăn.
 

 
 Trở lại vấn đề giống lợn quý trong tranh Đông Hồ.
 
Xác định giống lợn trong tranh, có vẻ như là một ý tưởng thô thiển. Bởi hoa lá, chim chóc, hay con lợn, con gà xuất hiện trong một tác phẩm hội hoạ không dứt khoát chúng phải mang đặc điểm cụ thể của một dòng giống nào đó. Tuy nhiên, với tranh dân gian, cụ thể là tranh lợn gà lại là chuyện khác. Dù tả thực hay cách điệu tới mức nào, thì dân gian vẫn chủ ý giữ lại những nét đặc trưng của nguyên mẫu. Theo đó, khi ngắm những bức tranh lợn gà “sáng bừng” trên phên vách, người ta như nhìn thấy đàn vật nuôi gần gũi, quen thuộc, đang sinh sôi nảy nở trong sân vườn, chuồng trại, đem lại sự may mắn sung túc cho gia chủ. Chính điều này đã tạo nên sức sống mãnh liệt, vẻ hấp dẫn đến say mê của tranh lợn gà mỗi dịp Tết đến Xuân về!
 
                                  HTC/Xuân Kỷ Hợi 2019
 
Chú thích:
 
[1] -Theo phungkon1.wordpress.com.
 
[2] -“Mõm gầu giai, tai lá mít, đít lồng bàn” đều mang kích thước và hình khối tương ứng với con trâu, không phù hợp với con lợn. Bởi thế, ngày xưa ở nông thôn khi diễn kịch đi cày, lấy hai người đứng khom lưng, hai tay người đứng sau đặt lên vai người đứng trước, trên lưng  phủ tấm vải. Người đứng trước tay cầm gầu giai có gắn sừng và tai, làm đầu trâu, rất giống. Trong thực tế, nhiều người đem tục ngữ xem tướng trâu sửa chữa, rồi gán cho tướng lợn, như “Mồm gầu giai ngày hai gánh cám”, vốn là câu “Mồm gầu giai ngày hai gánh cỏ” (tướng trâu phàm ăn, cày khoẻ). Chỉ có cỏ cho trâu, người ta mới phải gánh. Không ai gánh cám cho lợn ăn.
 
 
 tuancongthuphong.blogspot.com

  Bình luận của bạn
(*) Họ tên:  
(*) Email:  
(*) Tiêu đề:  
(*) Nội dung:  
Mã: 

Nội dung các bình luận
 

  Các Tin khác
  + St của Vo Thi Kieu Diem (22/03/2019)
  + Đóng cửa then cài. (21/03/2019)
  + Ngôn tình của một boss cầm kèo (14/03/2019)
  + Vì sao Giáng sinh phổ biến khắp thế giới? (25/12/2018)
  + GS. Chu Hảo và Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh (12/11/2018)
  + Vì sao chưởng Kim Dung chỉ thu hút người Hoa và Việt? (03/11/2018)
  + Hữu Loan: Về bài thơ màu tím hoa sim (30/10/2018)
  + Gốm Bát Tràng: ngàn năm tinh hoa người Việt (20/10/2018)
  + Sinh nhật mùa thu (20/10/2018)
  + Hai chiều ý kiến về cựu TBT Đỗ Mười (26/09/2018)
 
 
Trang chủ Nội quy Liên hệ Lên đầu trang  
Xa lộ thông tin    Cuộc sống    Thăng Long-Hà Nội    Phố Hà Nội    Nét văn hóa    Những giá trị bảo tồn    Cải tạo, tu bổ, bảo tồn    Quy hoạch - Đô thị    Địa ốc-phong thủy    Diễn đàn    Người đẹp    Thời trang    Du lịch    Thể thao-Sức khỏe    Ẩm thực    thư giãn    Mỹ thuật    Âm nhạc    Trang ảnh xưa    Góc chụp ảnh   

vietarch-kiến trúc sáng tạo