36phophuong.vn     
Trang chủ
Xa lộ thông tin
Cuộc sống
Thăng Long-Hà Nội
Phố Hà Nội
Nét văn hóa
 Văn nghệ online
 Văn hóa nghệ thuật
 Văn hóa xã hội
Những giá trị bảo tồn
Cải tạo, tu bổ, bảo tồn
Quy hoạch - Đô thị
Địa ốc-phong thủy
Diễn đàn
Người đẹp
Thời trang
Du lịch
Thể thao-Sức khỏe
Ẩm thực
thư giãn
Mỹ thuật
Âm nhạc
Trang ảnh xưa
Góc chụp ảnh
Trang chủ > Nét văn hóa >
  Gốm Bát Tràng: ngàn năm tinh hoa người Việt Gốm Bát Tràng: ngàn năm tinh hoa người Việt , 36phophuong.vn
 
Gốm Bát Tràng: ngàn năm tinh hoa người Việt

 Làng gốm Bát Tràng được hình thành từ thời Lý, cách nay khoảng 1.000 năm, tương ứng đời nhà Tống bên Trung Hoa. Trải qua hàng ngàn năm với nhiều thăng trầm, gốm Bát Tràng hiện nay vẫn đang được sản xuất và phát triển cả về quy mô lẫn chất lượng, với hình thức phong phú, đa dạng; nét thẩm mỹ, trình độ nghệ thuật đạt đến trình độ cao.

 

 

 

 

Đặc trưng của gốm Bát Tràng là dày, nặng, với 5 dòng men cổ truyền: lam, trắng, ngọc, nâu và rạn. Có một món đồ cổ Bát Tràng với tuổi đời nhiều trăm năm có lẽ cũng là một ước muốn của nhiều tay chơi đồ cổ hiện nay. Dù vậy, nói một cách khách quan, thì đồ gốm cổ Bát Tràng chưa thể sánh bằng đồ cổ đời Tống, đời Nguyên ... bên Tàu, với giá trị lên tới hàng triệu, thậm chí hàng chục triệu USD.

 

 I. Lịch sử hình thành & phát triển làng gốm Bát Tràng

 
Gốm Bát Tràng là tên gọi chung cho các loại đồ gốm sản xuất tại làng Bát Tràng, thuộc xã Bát Tràng, huyện Gia Lâm, TP. Hà Nội. 

 

 Theo Đại Việt sử ký toàn thư và Dư địa chí của Nguyễn Trãi, làng gốm Bát Tràng hình thành từ thời Lý. Tương truyền năm 1010, khi vua Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long, có năm dòng họ làm nghề gốm nổi tiếng ở làng Bồ Bát, phủ Trường Yên (nay thuộc huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình) là Trần, Vương, Nguyễn, Lê, Phạm đã quyết định đưa các nghệ nhân làm gốm và gia đình di cư về kinh thành Thăng Long tìm đất mới lập nghiệp. Khi ra đến vùng Bạch Thổ phủ Thuận An (nay là xã Bát Tràng) thấy nơi đây có loại đất sét trắng, là nguồn nguyên liệu rất tốt để làm đồ gốm, họ đã dừng chân. Rồi kết hợp với dòng họ Nguyễn ở đây mở các lò sản xuất gốm, khởi thủy lập nên làng gốm Bát Tràng ngày nay.

 
Lại nghe nói cũng giai đoạn này, nước Đại Việt ta có ba vị thái học sinh là Hứa Vinh Kiều, Đào Trí Tiến và Lưu Phương Tú được cử đi sứ bên Trung Quốc (khi đó là thời Bắc Tống). Trên đường trở về nước, họ có ghé qua Thiều Châu (nay thuộc Quảng Đông, Trung Quốc). Ở đây có các lò gốm nổi tiếng, ba vị tìm hiểu và học được một số kỹ thuật đem về truyền bá cho các làng nghề gốm Đại Việt. Cụ thể Hứa Vĩnh Kiều truyền cho Bát Tràng bí quyết làm nước men rạn trắng. Đào Trí Tiến truyền cho Thổ Hà (nay là huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang) bí quyết làm nước men sắc màu vàng đỏ. Lưu Phương Tú thì truyền cho người Phù Lãng (huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh) nước men màu đỏ và màu vàng thẫm.
 
Gốm Bát Tràng từng bước phát triển, trở thành trung tâm gốm nổi tiếng nhất cả nước, được triều đình khi ấy chọn dùng. 
 
Các bước thăng trầm của gốm Bát Tràng có thể tóm lược như sau:
 
* Thế kỉ 15 – 16: xuất hiện minh văn (chữ viết) trên sản phẩm
 
Sau khoảng vài trăm năm tồn tại, đến thời nhà Mạc, sản phẩm gốm Bát Tràng đã lưu thông rộng rãi trên khắp cả nước. Trên thân gốm Bát Tràng có nhiều sản phẩm xuất hiện chữ viết - gọi là "minh văn", ghi năm chế tạo, tên người đặt hàng và người sản xuất. 
 
Qua những minh văn này, cho thấy người đặt hàng có một số quan chức cao cấp và quý tộc nhà Mạc như: công chúa Phúc Tràng, phò mã Ngạn quận công, Đà quốc công Mạc Ngọc Liễn, Mĩ quốc công phu nhân... 
 
Thế kỉ 16–17: thời kỳ hoàng kim, xuất khẩu qua Nhật
 
Thời điểm này nhiều nước châu Âu đang mở rộng hoạt động giao thương, với các tàu buôn đi về phương Đông. Hoạt động mậu dịch hàng hải khu vực Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam, trở nên sôi động. 
 
Cùng đó, việc nhà Minh (Trung Quốc) lúc này có lệnh cấm tư nhân buôn bán với nước ngoài đã làm cho việc xuất khẩu gốm sứ của Trung Quốc (đã rất nổi tiếng) bị hạn chế, tạo điều kiện cho đồ gốm Bát Tràng của Việt Nam xâm nhập vào thị trường vùng Đông Nam Á. Quan hệ buôn bán giữa Việt Nam và Nhật Bản cũng rất phát triển, nhiều đồ gốm Bát Tràng được nhập cảng vào Nhật Bản.
 
Có thể nói đây là giai đoạn hoàng kim của gốm xuất khẩu Việt Nam, với hai trung tâm quan trọng và nổi tiếng nhất là Bát Tràng và Chu Đậu - Mỹ Xá (tỉnh Hải Dương).
 
Cuối thế kỉ 17 - thế kỉ 19: xuất khẩu giảm sút nghiêm trọng, sản xuất cầm chừng 
 
Sau khi Đài Loan được giải phóng (năm 1684), triều đình nhà Thanh (Trung Quốc) bãi bỏ chính sách cấm buôn bán với nước ngoài. Từ đó, nguồn gốm sứ chất lượng cao của Trung Quốc tràn xuống thị trường Đông Nam Á. Đồ gốm Việt Nam (trong đó có cả Bát Tràng) không đủ sức cạnh tranh. 
 
Mặt khác, Nhật Bản sau một thời gian đóng cửa để bảo vệ các nguyên liệu quý như bạc, đồng, đã đẩy mạnh phát triển kinh tế trong nước. Các ngành tơ lụa, đường, gốm sứ ... trước đây nhập khẩu từ nước ngoài thì nay tự sản xuất. Việc này khiến cho Bát Tràng không xuất khẩu qua Nhật được nữa.
 
Thời kỳ này tình hình sản xuất gốm ở Bát Tràng suy giảm nghiêm trọng.

 

 

 Chính sách hạn chế ngoại thương của các chính quyền Trịnh, Nguyễn trong thế kỉ 18 và của nhà Nguyễn trong thế kỉ 19 đã làm cho quan hệ mậu dịch đối ngoại của Việt Nam sa sút và việc xuất khẩu đồ gốm bị suy giảm. Một số làng nghề gốm thậm chí bị gián đoạn sản xuất (gốm Chu Đậu) - vì không tiêu thụ được. 

 
Riêng Gốm Bát Tràng vẫn giữ được sản xuất nhờ có sẵn uy tín và thị trường tiêu thụ rộng rãi trong nước với những đồ gia dụng, đồ thờ, đồ trang trí và gạch xây ... vốn cần thiết cho mọi tầng lớp xã hội. 
 
Thế kỉ 19: Nhiều biến động 
 
Trong thời Pháp thuộc, các lò gốm Bát Tràng vẫn duy trì được hoạt động.
 
Sau Chiến tranh Đông Dương (1945–1954), năm 1957, các cá nhân là địa chủ của thôn Giang Cao góp vốn thành lập công ty gốm Trường Thịnh, sản xuất gốm sứ dân dụng.
 
Năm 1958 nhà nước tiến hành công tư hợp doanh, chuyển đổi công ty gốm Trường Thịnh thành Xí nghiệp sứ Bát Tràng.
 
Hiện nay: mở rộng thị trường, sản phẩm phong phú, hiện đại

 

 Từ những năm 1990, gốm Bát Tràng chuyển biến lớn theo hướng kinh tế thị trường. Các hợp tác xã gốm trước đây lần lượt giải thể hoặc chuyển thành công ty cổ phần; nhưng vẫn còn nhiều hộ gia đình làm nghề gốm.

 
Sản phẩm gốm Bát Tràng càng ngày càng phong phú và đa dạng. Ngoài các mặt hàng truyền thống, các lò gốm Bát Tràng sản xuất thêm nhiều sản phẩm mới, các vật liệu xây dựng, các loại sứ cách điện và các sản phẩm xuất khẩu theo đơn đặt hàng của nước ngoài. Hiện nay sản phẩm Bát Tràng có mặt trên cả nước và được xuất khẩu sang nhiều nước châu Á, châu Âu.
 
Về kỹ thuật, một số nghệ nhân đã bước đầu thành công trong việc khôi phục một số đồ gốm cổ truyền với những kiểu dáng và nước men đặc sắc có từ thời Lý, Trần, Lê, Mạc...
 
II. Quy trình sản xuất đồ gốm Bát Tràng
 
Để làm ra đồ gốm người thợ gốm phải qua các khâu chọn, xử lý và pha chế đất, tạo dáng, tạo hoa văn, phủ men, và cuối cùng là nung sản phẩm. Kinh nghiệm truyền đời của dân làng gốm Bát Tràng là "Nhất xương, nhì da, thứ ba dạc lò".
 
1. Tạo cốt gốm
 
Chọn đất sét 
 
Đất sét làm gốm rất quan trọng. Trước đây ở Bát Tràng có mỏ đất sét trắng, nhưng đến thế kỉ 18 nguồn đất sét tại chỗ đã cạn kiệt, buộc phải đi tìm nguồn đất mới. Hiện nay chủ yếu đất sét lấy từ nguồn Hồ Lao, Trúc Thôn (từ Bát Tràng ngược sông Hồng lên vùng Sơn Tây, Phúc Yên, rẽ qua sông Đuống, xuôi dòng Kinh Thầy đến Đông Triều, khai thác đất sét trắng ở Hồ Lao, Trúc Thôn). Đất sét Trúc Thôn có độ dẻo cao, khó tan trong nước, hạt mịn, màu trắng xám, độ chịu lửa ở khoảng 1650°C. 
 
Xử lý, pha chế đất
 
Ở Bát Tràng, phương pháp xử lý đất truyền thống là xử lý thông qua ngâm nước trong hệ thống bể chứa, gồm 4 bể ở độ cao khác nhau.
 
Bể thứ nhất ở vị trí cao hơn cả là "bể đánh" dùng để ngâm đất sét thô và nước (thời gian ngâm khoảng 3-4 tháng). Đất sét dưới tác động của nước sẽ bị phá vỡ kết cấu hạt nguyên thuỷ của nó và bắt đầu quá trình phân rã (dân gian gọi là ngâm lâu để cho đất nát ra). Khi đất đã "chín" (cách gọi dân gian), đánh đất thật đều, thật tơi để các hạt đất thực sự hoà tan trong nước tạo thành một hỗn hợp lỏng. Sau đó tháo hỗn hợp lỏng này xuống bể thứ hai gọi là "bể lắng" hay "bể lọc". Tại đây đất sét bắt đầu lắng xuống, một số tạp chất (nhất là các chất hữu cơ) nổi lên, tiến hành loại bỏ chúng.
 
Sau đó, múc hồ loãng từ bể lắng sang bể thứ ba gọi là "bể phơi", người Bát Tràng thường phơi đất ở đây khoảng 3 ngày, sau đó chuyển đất sang bể thứ tư là "bể ủ". Tại bể ủ, ôxyt sắt (Fe2O3) và các tạp chất khác bị khử bằng phương pháp lên men (tức là quá trình vi sinh vật hoá khử các chất có hại trong đất). Thời gian ủ càng lâu càng tốt.
 
Tạo dáng
 

 Phương pháp tạo dáng cổ truyền là làm bằng tay trên bàn xoay. Người thợ gốm sử dụng phổ biến lối "vuốt tay, be chạch" trên bàn xoay, ngồi trên một cái ghế cao hơn mặt bàn rồi dùng chân quay bàn xoay và tay vuốt đất tạo dáng sản phẩm. Đất trước khi đưa vào bàn xoay được vò cho thật nhuyễn, cuốn thành thoi rồi ném ("bắt nẩy") để thu ngắn lại. Sau đó người ta đặt vào mà giữa bàn xoay, vỗ cho đất dính chặt rồi lai nén và kéo cho đất nhuyễn dẻo mới "đánh cử" đất và "ra hương" chủ yếu bằng hai ngón tay bên phải.

 
Người thợ "đắp nặn" gốm là người thợ có trình độ kĩ thuật và mĩ thuật cao. Có khi họ đắp nặn một sản phẩm gốm hoàn chỉnh, nhưng cũng có khi họ đắp nặn từng bộ phận riêng rẽ của một sản phẩm và sau đó tiến hành chắp ghép lại. 
 
Hiện nay theo yêu cầu sản xuất gốm công nghiệp hay mĩ nghệ, nghệ nhân gốm có thể đắp nặn một sản phẩm mẫu để đổ khuôn thạch cao phục vụ cho việc sản xuất hàng loạt. Cách tạo dáng này trong cùng một lúc có thể tạo ra hàng loạt sản phẩm giống nhau, nhanh và giản tiện. 
 
Phơi sấy và sửa hàng mộc
 

 

 Phương pháp cổ truyền là hong khô hiện vật trên giá và để nơi thoáng mát. Ngày nay nhiều các gia đình sử dụng biện pháp sấy bằng lò sấy, tăng nhiệt độ từ từ để cho nước bốc hơi dần dần.

 
Sản phẩm mộc sau đó được cắt, gọt chỗ thừa, bồi đắp chỗ khuyết, chắp các bộ phận của sản phẩm (như vòi ấm, quai tách...), khoan lỗ trên các sản phẩm, tỉa lại đường nét hoa văn và thuật nước cho mịn mặt sản phẩm. Theo yêu cầu trang trí, có thể đắp thêm đất vào một vài vùng nào đó trên sản phẩm rồi cắt tỉa để tạo hình (đắp phù điêu), có khi phải khắc sâu các hoạ tiết trang trí trên mặt sản phẩm...
 
2. Trang trí hoa văn và phủ men
 
Vẽ
 
Thợ gốm dùng bút lông vẽ trực tiếp trên nền mộc các hoa văn, hoạ tiết. 
 
Tráng men
 
Khi sản phẩm mộc đã hoàn chỉnh, người thợ gốm có thể nung sơ bộ sản phẩm ở nhiệt độ thấp rồi sau đó mới đem tráng men. Hoặc dùng ngay sản phẩm mộc hoàn chỉnh đó trực tiếp tráng men lên trên rồi mới nung. 
 
Người thợ gốm Bát Tràng thường chọn phương pháp tráng men trực tiếp lên trên sản phẩm mộc hoàn chỉnh. Những sản phẩm mà xương gốm có màu trước khi tráng men phải có một lớp men lót để che bớt màu của xương gốm.
 
Kĩ thuật tráng men có nhiều hình thức như phun men, dội men lên bề mặt cốt gốm cỡ lớn, nhúng men đối với loại gốm nhỏ nhưng thông dụng nhất là hình thức láng men ngoài sản phẩm, gọi là "kìm men", và khó hơn cả là hình thức "quay men" và "đúc men". 
 
Quay men là hình thức tráng men bên trong và bên ngoài sản phẩm cùng một lúc, còn đúc men thì chỉ tráng men trong lòng sản phẩm. Đây là những thủ pháp tráng men của thợ gốm Bát Tràng, vừa là kĩ thuật vừa là nghệ thuật, được bảo tồn qua nhiều thế hệ, thậm chí là bí quyết trong nghề nghiệp.
 
3. Nung
 
Đốt lò là khâu quyết định sự thành công hay thất bại của một mẻ gốm. Giờ phút nhóm lò trở nên thiêng liêng trọng đại với người thợ gốm. Người thợ cả cao tuổi nhất thắp ba nén hương và thành kính cầu mong trời đất và thần lửa phù giúp. Việc làm chủ ngọn lửa theo nguyên tắc nâng dần nhiệt độ để lò đạt tới nhiệt độ cao nhất và khi gốm chín thì lại hạ nhiệt độ từ từ chính là bí quyết thành công của khâu đốt lò.
 
Trước đây gốm Bát Tràng chuyên sử dụng các loại lò như lò ếch (hay lò cóc), lò đàn và lò bầu để nung gốm. Sau này, xuất hiện thêm nhiều loại lò nung khác, càng ngày càng hiện đại và đơn giản trong việc thao tác hơn.
 
Đối với loại lò ếch có thể dùng các loại rơm, rạ, tre, nứa để đốt lò, sau đó Bát Tràng dùng kết hợp rơm rạ với các loại "củi phác" và "củi bửa" và sau nữa thì củi phác và củi bửa dần trở thành nguồn nhiên liệu chính cho các loại lò gốm ở Bát Tràng.
 
Khi chuyển sang sử dụng lò đứng, nguồn nhiên liệu chính là than cám còn củi chỉ để gầy lò. Than cám đem nhào trộn kĩ với đất bùn theo tỷ lệ nhất định có thể đóng thành khuôn hay nặn thành bánh nhỏ phơi khô. Nhiều khi người ta nặn than ướt rồi đập lên tường khô để tường hút nước nhanh và than chóng kết cứng lại và có thể dùng được ngay.
 
Hiện nay đã có lò dùng nhiên liệu là khí gaz, đưa nhiệt độ nung lên rất cao và nhanh.
 
III. Đặc điểm của gốm Bát Tràng
 
1. Theo mục đích sử dụng: 
 
Cho đến nay, hầu hết đồ gốm Bát Tràng được sản xuất theo lối thủ công (làm bằng tay), qua từng sản phẩm thể hiện rõ rệt tài năng sáng tạo của người thợ, lưu truyền qua nhiều thế hệ. 
 
Do tính chất của nguyên liệu tạo cốt gốm (đất sét) và việc tạo dáng làm bằng tay trên bàn xoay, cùng việc sử dụng các loại men theo kinh nghiệm nên đồ gốm Bát Tràng có đặc trưng là: cốt đầy, chắc, trọng lượng khá nặng và màu men thường ngả màu trắng ngà, xám nâu, đục. 
 
Dựa vào ý nghĩa sử dụng, có thể phân chia gốm Bát Tràng thành các nhóm như sau:
 
* Đồ gốm gia dụng: các loại đĩa, chậu hoa, âu, thạp, ang, bát, chén, khay trà, ấm, điếu, nậm rượu, bình vôi, bình, lọ, choé và hũ.
 
* Đồ gốm dùng làm đồ thờ cúng: các loại chân đèn, chân nến, lư hương, đỉnh, đài thờ, mâm gốm và kiếm. Trên nhiều chân đèn, lư hương và đỉnh có minh văn cho biết rõ họ tên tác giả, quê quán và năm tháng chế tạo, có sản phẩm còn ghi khắc cả họ và tên của người đặt hàng. 
 
* Đồ trang trí: mô hình nhà, long đình, các loại tượng như tượng nghê, tượng ngựa, tượng Di Lặc, tượng Kim Cương, tượng hổ, tượng voi, tượng người ba đầu, tượng đầu khỉ mình rắn và tượng rồng.
 
2. Đặc trưng về trang trí, hoa văn:
 
Sản phẩm gốm Bát Tràng, theo thời gian có sự thay đổi, với những đặc trưng sau:
 
* Thế kỉ 14–15: 
 
Trang trí trên gốm gồm các kiểu như khắc chìm, tô men nâu theo kĩ thuật gốm hoa nâu thời Lý–Trần, kết hợp với chạm nổi và vẽ men lam. Khoảng thời gian này đánh dấu sự ra đời của dòng gốm hoa lam đồng thời xuất hiện những đồ gốm hoa nâu vẽ theo gốm hoa lam. 
 
Đề tài trang trí chủ yếu là hoa lá, cây; tiếp nối gốm hoa nâu thời Trần.

 

 Thế kỉ 16:

 
Xuất hiện những chân đèn, lư hương có kích thước lớn hơn, kĩ thuật trang trí chạm nổi kết hợp vẽ men lam đạt đến trình độ tinh xảo. Đề tài trang trí phổ biến có các loại: rồng, phượng, xen kẽ cụm mây, ngựa có cánh, hoạt cảnh người, cánh sen đứng, hoa dây, lá đề, phong cảnh sơn thuỷ...
 
Trang trí vẽ men lam tiếp tục phát triển, nhiều loại văn hình học và hoa lá còn thấy gần gũi với đồ gốm hoa lam xuất hiện cùng thời ở Chu Đậu.
 
Thế kỉ 17:
 
Kỹ thuật chạm khắc, đắp nổi trên gốm càng tinh tế, cầu kì, gần gũi với chạm đá và gỗ. 
 
Đề tài trang trí xuất hiện thêm các đề tài mới: bộ tứ linh, hổ phù, nghê, hạc ... Những đề tài chạm nổi, để mộc điển hình khác như :bông cúc hình ôvan, bông hoa 8 cánh, bông cúc tròn, cánh hoa hình lá đề, cánh sen vuông, các chữ Vạn-Thọ (chữ Hán)... 
 
Việc sử dụng men lam kém dần và xuất hiện dòng gốm men rạn với sự kết hợp trang trí đề tài nổi bật như rồng, tứ linh, hoa lá, cúc-trúc-mai. 
 
Trong khoảng thời gian này còn xuất hiện loại gốm nhiều màu, nổi trội nhất là màu ngọc với các đề tài trang trí độc đáo: hoa sen, chim, nghê, hình người...
 
Thế kỉ 18:
 
Trang trí chạm nổi gần như chiếm chủ đạo, thay thế trang trí vẽ men lam trên gốm Bát Tràng. Các kỹ thuật đúc nổi, dán ghép, chạm khắc nổi đã thích ứng với việc sử dụng men đơn sắc (men trắng xám và men rạn). Đề tài trang trí ngoài bộ tứ linh, rồng, nghê còn thể hiện các loài cây tượng trưng cho bốn mùa.
 
Ngoài đề tài sen, trúc, chim và hoa lá còn thấy xuất hiện các loại văn bát quái, lá lật... Hoa văn đường diềm phát triển manh các nền gấm, chữ vạn, cánh sen nhọn, hồi văn, sóng nước...
 
Thế kỉ 19:
 
Gốm hoa lam phục hồi và phát triển phong cách kết hợp sử dụng nhiều loại men vào trang trí. 
 
Bên cạnh các đề tài đã có còn xuất hiện thêm các đề tài du nhập từ nước ngoài theo các điển tích Trung Quốc như: Ngư ông đắc lợi, Tô Vũ chăn dê, Bát tiên quá Hải, Ngư ông kéo lưới...
 
3. Các dòng dòng men của gốm Bát Tràng:
 
Gốm Bát Tràng có 5 dòng men đặc trưng được thể hiện qua mỗi thời kì khác nhau, tạo nên những sản phẩm đặc trưng khác nhau.
 
Men lam xuất hiện khởi đầu ở Bát Tràng với những đồ gốm có sắc xanh chì đến đen sẫm; 
 
Men nâu thể hiện theo phong cách truyền thống và được vẽ theo kĩ thuật men lam; 
 
Men trắng ngà sử dụng trên nhiều loại hình đồ gốm từ thế kỉ 17 đến thế kỉ 19, men này mỏng, màu vàng ngà, bóng thích hợp với các trang trí nổi tỉ mỉ; 
 
Men ngọc được dùng kết hợp với men trắng ngà và nâu tạo ra một đòng Tam thái rất riêng của Bát Tràng ở thế kỉ 16–17.
 
Men rạn là dòng men chỉ xuất hiện tại Bát Tràng từ cuối thế kỉ 16 và phát triển liên tục qua các thế kỉ 17–19.
 
Dưới đây là cụ thể từng dòng men.
 
1. Men lam
 
Đây là loại men sớm nhất được sử dụng tại Bát Tràng từ thế kỉ 14. Men lam là men gốm được cộng thêm với gốc màu là ôxít côban. 
 
Thợ Bát Tràng sử dụng men lam đồng thời với kĩ thuật dùng bút lông làm công cụ vẽ trên đồ gốm. Men lam không để để trần như men nâu mà bao giờ cũng được phủ lớp men màu trắng bóng, có độ thuỷ tinh hoá cao sau khi nung. Men lam có sắc độ từ xanh chì đến xanh sẫm. Bên cạnh điểm tương đồng với các loại bình gốm hoa lam sản xuất ở lò Chu Đậu (Hải Dương), gốm hoa lam Bát Tràng ngay ở thời kì đầu đã có những nét riêng về dáng và về hoạ tiết trang trí. Những bát, âu, lọ, chân đèn gốm hoa lam của Bát Tràng thế kỉ 14–15 có nét chung dễ nhận là lối vẽ phóng bút, dù là vẽ phong cảnh, hoa dây lá hay vẽ rồng.

 

 Gốm hoa lam Bát Tràng thế kỉ 16, có sắc xanh đen. Men lam dùng để vẽ mây kết hợp với trang trí hình rồng nổi để mộc, vẽ cánh sen, các băng đường diềm các cặp chân đèn ngoài ra men lam dùng vẽ vào các hình trang trí nổi rồng, hoa dây và cánh sen của chân đèn và lư hương.

 
Thế kỉ 17 là một thời kì men lam kém phát triển tại Bát Tràng. Trên một số các chân đèn, lư hương, hũ, tượng gốm Bát Tràng (thế kỉ 17) hiện còn, lớp men vẽ trang trí màu nâu ở những chỗ men phủ màu trắng ngà rạn bị bong tróc, chỗ còn men phủ, màu nâu có sắc xanh chì, đặc biệt là chân đèn và lư hương, các hình vẽ men lam kém chau chuốt và tình trạng khá phổ biến men lam chảy nhoè, không nhận ra các họa tiết. Trong khi đó khắc chạm nổi, để mộc rất tỉ mỉ, đạt tới đỉnh cao.
 
Cuối thế kỉ 18, trong đỉnh cao về men rạn, Bát Tràng xuất hiện lối kết hợp trang trí nổi với vẽ lam như trên chân đèn, men lam được khôi phục trở lại trên đồ gốm Bát Tràng.
 
Thế kỉ 19, men lam được vẽ trang trí trên lư, choé, bình, lọ, bát hương, nậm rượn phủ men rạn trắng ngà hoặc đỉnh gốm, bình gốm men nhiều màu. Nét biểu hiện đặc trưng của men lam gốm Bát Tràng là sắc màu và lối vẽ, nhìn chung có sắc trầm. Dùng men lam vẽ phong cảnh sơn thủy, nhà cửa, lâu đài, nhân vật khá thành công trên bình. Men lam có sắc tươi dùng tô vẽ trang trí nồi trên đỉnh có thể là một trong số những tiêu bản gốm hoa lam đẹp nhất của gốm Bát Tràng ở cuối thế kỉ 19.
 
Gốm Bát Tràng ở thế kỉ 19 có trường hợp dùng nhiều màu men trong một sản phẩm. Chẳng hạn, để thể hiện đê tài Bát Tiên quá hải người thợ Bát Tràng dùng men nâu và men lam tô lên các hình trang trí nồi sau đó phủ men trắng rạn. Men lam cùng với men trắng vẽ các đề tài mã liễu, tiêu tượng, tùng lộc trên lư gốm men nâu, men lam vẽ cành liễu, khóm lan, bụi cỏ trong bức tranh nổi Tô Vũ chăn dê, men lam cùng với men nâu sắc sẫm và nhạt tạo nên chiếc đỉnh gốm men nhiều màu đồ sộ.
 
2. Men nâu
 
Một trong số các loại men sử dụng đầu tiên ở Bát Tràng là men nâu, sắc độ màu của men phụ thuộc nhiều vào xương gốm (xương gốm Bát tràng dày và thường có màu nâu xám). Trên các đồ gốm có niên đại thế kỉ 14 đầu thế kỉ 15, men nâu được dùng tô lên các đồ án trang trí kết hợp với men nền màu trắng ngà bao gồm chân đèn, thạp, chậu, âu, đĩa...
 
Men nâu có sắc độ đỏ nâu hay gọi là màu bã trầu (chocolate), men này không bóng, trên bề mặt men thường có vết sần. Men nâu còn được dùng phủ toàn bộ rồi cạo bỏ phần men tạo thành đồ án hoa văn mộc. Thế kỉ 14, thợ gốm Bát Tràng đã biết hạn chế sự ảnh hưởng màu men nâu do mộc bằng cách vẽ men nâu trên lớp men trắng ngà để chuyển men nâu đỏ sang vàng nâu.
 

 

 Trong các loại hình của nhóm đồ gốm men nhiều mâu thế kỉ 16–17, men nâu được dùng xen lẫn với men ngọc, men ngà, tạo ra các sắc độ khác nhau. Men nâu giữ vị trí các đường chỉ chia băng, tô lên hoa sen hoặc các hình rồng, đối với lư hương chữ nhật men nâu tô lên phần chân đế...

 
Các đồ gốm thế kỉ 18 tiếp tục sử dụng men nâu nhiều theo cách thức cổ truyền, một số nghệ nhân tìm tòi phát huy thêm để làm phong phú màu men này, đặc biệt trên cặp tượng hổ chế tạo khoảng năm 1740, men nâu dưới lớp men rạn tạo nên bộ da hổ có màu sắc đa dạng hơn.
 
Thế kỉ 19, men nâu dùng làm nền cho các trang trí men trắng và xanh. Những bình, lọ men rạn ngà, thể hiện đề tài trang trí: Ngư ông đắc lợi, tùng hạc, Tô Vũ chăn dê, Bát tiên quá hải... men nâu dùng để tô trên những thân cây tùng, cây liễu hoặc điểm thêm vào các dải mây, tà áo của Bát tiên. Thế kỉ 19 là thời điểm đánh dấu men nâu đã chuyển sắc thành một loại men bóng (thường gọi là men da lươn), sử dụng rộng rãi ở Bát Tràng cho tới tận ngày nay.
 
3. Men trắng (ngà)
 
Đây là loại men trắng, nhiều trường hợp ngả màu vàng ngà, bóng khi nhiệt độ nung đạt độ cao nhưng cũng nhiều trường hợp có màu trắng xám, trắng sữa, đục. Cùng với kiểu dáng và trang trí, men trắng ngà cũng tạo nên một nét riêng biệt của đồ gốm Bát Tràng. Men trắng ngà đã thấy sử dụng phủ lên trang trí men lam hay men nâu, nhưng trong rất nhiều đồ gốm Bát Tràng chỉ thấy dùng men trắng ngà.
 

 
 Gốm Bát Tràng thế kỉ 17 đạt đỉnh cao trong kĩ thuật trang trí nổi với hầu hết các thủ pháp kĩ thuật chạm trổ, dán ghép. Men trắng ngà được sử dụng trên các lư hương để phủ trên các rìa, ước và đường viền ngoài phần trang trí nổi, rất ít khi phủ lên hình trang trí. Vì men trắng mỏng, xương gốm được lọc luyện kĩ và độ nung cao nên có chất lượng tốt, một số sản phẩm men trắng ngà phủ lên trang trí nổi dày vẫn có vết rạn men.
 
Thế kỉ 18, men trắng ngà còn thấy sử dụng trên một số loại hình khác nhau cùng trang trí nổi để mộc. Những lư hương tròn được đắp nổi hình rồng và mặt nguyệt, phần còn lại phủ men trắng ngà.
 
Vào thế kỉ 19, gốm Bát Tràng chưa mất hẳn kiểu trang trí nổi để mộc, men ngà còn thấy sử dụng trên các loại bình, lọ, lư hương, tượng tròn. Bình gốm có nắp có các hình rồng mây và lục bảo trang trí nổi để mộc, phần còn lại phủ men trắng ngà. Trên các loại bình, lư hương quai tùng, lư hương chữ Thọ; cặp tượng đầu khỉ thân rắn, tượng rồng trang trí kiến trúc, tượng ba đầu, tượng Phật Bà Quan Âm ngồi trên toà sen đều thấy sử dụng men ngà, xám.
 
4. Men ngọc
 
Thế kỉ 14–19 men ngọc được dùng khá nổi trội cùng với men trắng ngà và nâu. Men ngọc, men ngà và nâu tạo ra loại Tam thái riêng của gốm Bát Tràng thế kỉ 16–17. Trên chân đèn men ngọc tô lên những bông sen nổi, băng hoa tròn của dải cánh sen các bông hoa tròn hình bánh xe, các hình rồng, các bông hoa nổi đường diềm quanh vai.
 

 
Men ngọc còn dùng vẽ mây, tô lên nhiều góc mảng diềm, đế và các cột dọc của long đình; men rêu sắc sẫm ở các cột vuông mô hình nhà 2 tầng hay một số mảng đường diềm lư hương chữ nhật. Men ngọc, sắc nhạt, trên chân đèn, đế nghê. Trên lư hương tròn men ngọc thấy điểm vào 4 hình chữ S nổi giữa thân và chân cùng một đôi chỗ trên bụng. Men ngọc sắc sẫm còn thấy tô trên một số mảng trang trí nổi, hình nghê của lư tròn và trên diềm trang trí nổi chân trước tượng nghê.
 
Men ngọc, dù ở các sắc độ khác nhau nhưng sự xuất hiện của nó mang ý nghĩa rất lớn vì chỉ thấy trên đồ gốm Bát Tràng thế kỉ 16–17 và có thể xem đây là một dữ kiện đoán định niên đại khá chắc chắn cho các đồ gốm Bát Tràng trên nhiều loại hình khác nhau.
 
5. Men rạn
 
 
 Đây là một loại men độc đáo tạo ra do sự chênh lệch về độ co giữa xương gốm và men. Cho đến nay các tài liệu gốm men cổ ở Việt Nam xác nhận mang men rạn chỉ được sản xuất tại lò gốm Bát Tràng từ khoảng cuối thế kỉ 16 và kéo dài tới đầu thế kỉ 20.
 
Như sản phẩm lư hương khắc minh văn, do gia đình Đỗ Phủ sản xuất vào cuối thế kỉ 16 thể hiện lớp men rạn trên 2 phần dưới của lư hương tròn có thể xem là tiêu bản gốm men rạn sớm nhất. Men rạn có sắc ngà xám các vết rạn chạy dọc và ngang chia ra nhiều hình tam giác, tứ giác.
 
Hay cặp chân đèn do "Đỗ phủ xã Bát Tràng" tạo tạo khoảng năm 1600–1618, trong đó men rạn phủ toàn bộ từ miệng tới chân, có màu vàng ngà, rạn trong men, đường chỉ rạn màu đen. Những cặp hiện vật men rạn này rêu có trang trí nổi, ngoài men rạn ra không còn loại men nào khác, đó là những tiêu bản men rạn chuẩn mực của Bát Tràng vào thế kỉ 17.
 
Thế kỉ 18 Bát Tràng còn sản xuất nhiều đồ gốm men rạn có ghi niên đại. Đỉnh gốm men rạn chế tạo năm 1736, men rạn có màu trắng xám. Một đỉnh gốm men rạn khác, có nắp, thân và đế, chế tạo vào khoảng năm 1740–1768 lại dùng men rạn có màu vàng ngà... Men rạn còn được sù dụng trên các loại hình: chân nến trúc hoá long; ấm có nắp, đài thờ các nắp, cặp tượng nghê.
 
Thế kỉ 19, các đồ gốm dòng men rạn còn tiếp tục phát triển, bên cạnh việc sử dụng kết hợp men rạn với trang trí vẽ lam. Trên các đồ gốm, thợ Bát Tràng còn đắp nổi, khắc chìm hoặc không trang trí, men rạn có màu trắng xám.
 
4. Hình tượng con rồng trên gốm Bát Tràng:
 
Đối với các nhà khảo cổ, các nhà sưu tầm đổ cổ và các nhà nghiên cứu mỹ thuật, chủ đề rồng thể hiện qua các thời kì trên gốm nói chung được nhiều người quan tâm. Rồng là đề tài thường được trang trí trên nhiều loại hình, đặc biệt trên chân đèn và lư hương.
 
Rồng trên gốm Bát Tràng có đặc điểm như sau:
 
Thế kỉ 16:
 
Rồng được đắp nổi hoặc để mộc như trên đồ gốm thời Nguyên (Trung Quốc) hay vẽ men lam. Rồng có đôi cánh mọc ra từ chân trước, cong như cánh bướm. Rồng cùng với phượng mở ra cấu trúc trang trí rồng bay phượng múa.
 
Đầu thế kỉ 17:
 
Rồng vẫn giữ nhiều nét tương đồng rồng thế kỉ 16, nhưng sau đó được cách điệu với 4 khúc không đều nhau, mở ra một kiểu rồng mới, khác lạ. Rồng bố cục theo chiều ngang, dáng rồng ngắn, thân uốn hình cánh cung, tay trước nắm râu. Rồng chạm nổi trong hình khánh hay thấu kính có thân nhỏ và đều có những dải mấy lửa kiểu đao mác. 
 
Nửa sau thế kỉ 17 lại xuất hiện dáng rồng gần gũi với rồng điêu khắc trên gỗ. Đuôi rồng từ bên trái trườn qua bên phải, đầu quay vào giữa. Mặt rồng tả chính diện, tay trước nắm râu. Xung quanh rồng có nhiều dải mây nổi vẽ men lam. Một kiểu rồng nữa được thể hiện trên lư hương, đế nghê, mô hình nhà là rồng nổi, đuôi vút lên trên, hai chân trước chống, đầu uốn lên, bố cục trong hình chữ nhật.
 
Thế kỉ 18:
 
Rồng thân dài, đắp nổi theo dạng phù điêu, đầu nghiêng, hai mắt lồi, sừng và râu cong, bờm gáy dày, vây cá nhọn, vảy rắn, xung quanh rồng có những dải mây nổi hình 3 ngọn lửa. Sau đó, rồng ổ xuất hiện bao gồm một rồng mẹ và 6 rồng con, xen kẽ các dải mây hình khánh. 
 
Rồng được thể hiện trên bình con voi, lư hương hoặc trên bao kiếm thờ...Với rồng đắp nổi, chỉ thể hiện đầu rồng chính diện, hai chân trước dang rộng, lộ mũi hẹp, mắt lồi, miệng ngậm vòng tròn hay chữ Thọ kiểu triện còn được thể hiện trên những chiếc đỉnh.
 
Thế kỉ 19:
 
Rồng được thể hiện theo phong cách tượng tròn với thân ngắn, mình tròn, đầu rồng có miệng rộng, mũi cao, vây cá, vảy tròn và được trang trí theo kiểu đắp nổi hoặc vẽ men lam trên đỉnh gốm hoặc trên bình men rạn vẽ nhiều màu. Ngoài ra, còn có đầu rồng với mặt nhìn chính diện, hai chân xoè ngang năm hai dải mây, miệng ngậm vòng...
 
5. Minh văn (chữ viết) trên gốm Bát Tràng:
 
 
Gốm Bát Tràng nhiều trường hợp có minh văn, thể hiện bằng khắc chìm hay viết bằng men lam dưới men trắng. Một số minh văn cho biết rõ năm sản xuất, họ tên quê quán tác giả chế tạo cùng họ tên, có khi là cả chức tước của người đặt hàng.
 
Chẳng hạn thế kỉ 15, một minh văn khắc trên phần dưới chân đèn có ghi: Thuận An phủ, Gia Lâm huyện, Bát Tràng xã tín thí Hoàng Li tỉnh thê Nguyễn Thị Bảo. Trên đai tô nâu giũa phần dưới chân đèn có viết bằng men 6 chữ Hán: Thời Trung xã, Hoàng Phúc tạo. 
 
Hoặc cặp phần dưới chân đèn minh văn cho biết: Tác giả: Vũ Ngộ Trên, Bùi Thị Đỗ, Hoàng Thị Vệ, Bùi Huệ, và Trần Thị Ngọ; Thời gian chế tạo: niên hiệu Diên Thành. Có minh văn ghi rõ người đặt hàng như cặp chân đèn hai phần: Người đặt hàng: Lê Thị Lộc, ở Vân Hoạch, Xuân Canh huyện Đông Ngạn. Thời gian chế tạo: Năm Diên Thành thứ 2. 
 
Một cặp chân đèn khác có khắc minh văn dài, một bên khắc 3 dòng và một bên 14 dòng, cho biết: Tác giả: Bùi Huệ và Bùi Thị Đỗ; thời gian chế tạo: ngày 25 tháng 11 năm Diên Thành thứ 3; những người đặt hàng: gia đình họ Lưu cùng họ Nguyễn, Lê, Đinh... 
 
Những sản phẩm Bát Tràng có ghi minh văn một số đang được trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, một số tại các bảo tàng ở nước ngoài. Và không ít đang thuộc sở hữu bởi các nhà sưu tầm đồ cổ, lưu lạc trong dân gian và thậm chí còn ẩn chìm trong lòng đất chưa được phát hiện.
 
 
 
 
 Nguồn tư liệu: Wikipedia, internet 
 
Hoa Văn biên soạn - dandensg.blogspot.com
 
Bài liên quan:
 

  Bình luận của bạn
(*) Họ tên:  
(*) Email:  
(*) Tiêu đề:  
(*) Nội dung:  
Mã: 

Nội dung các bình luận
 

  Các Tin khác
  + GS. Chu Hảo và Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh (12/11/2018)
  + Vì sao chưởng Kim Dung chỉ thu hút người Hoa và Việt? (03/11/2018)
  + Hữu Loan: Về bài thơ màu tím hoa sim (30/10/2018)
  + Sinh nhật mùa thu (20/10/2018)
  + Hai chiều ý kiến về cựu TBT Đỗ Mười (26/09/2018)
  + Một bài thơ cũ: Nhà thơ Vũ Hoàng Chương (14/09/2018)
  + Nguyễn Bính – nhà thơ điệu nói trong phong trào thơ mới lãng mạn 1932 – 1945 (09/09/2018)
  + Em chỉ cần yêu Anh thôi, cả thế giới để Anh lo (09/07/2018)
  + Nhà sử học Phan Huy Lê và Lịch sử (25/06/2018)
  + Triết học nhẹ nhàng của Trịnh Công Sơn (28/05/2018)
 
 
Trang chủ Nội quy Liên hệ Lên đầu trang  
Xa lộ thông tin    Cuộc sống    Thăng Long-Hà Nội    Phố Hà Nội    Nét văn hóa    Những giá trị bảo tồn    Cải tạo, tu bổ, bảo tồn    Quy hoạch - Đô thị    Địa ốc-phong thủy    Diễn đàn    Người đẹp    Thời trang    Du lịch    Thể thao-Sức khỏe    Ẩm thực    thư giãn    Mỹ thuật    Âm nhạc    Trang ảnh xưa    Góc chụp ảnh   

vietarch-kiến trúc sáng tạo