36phophuong.vn     
Trang chủ
Xa lộ thông tin
Cuộc sống
Thăng Long-Hà Nội
Phố Hà Nội
Nét văn hóa
Những giá trị bảo tồn
Cải tạo, tu bổ, bảo tồn
Quy hoạch - Đô thị
Địa ốc-phong thủy
Diễn đàn
 Ý kiến cộng đồng
 Ý kiến chuyên gia
 Người nước ngoài nói về Hà Nội
Người đẹp
Thời trang
Du lịch
Thể thao-Sức khỏe
Ẩm thực
thư giãn
Mỹ thuật
Âm nhạc
Trang ảnh xưa
Góc chụp ảnh
Trang chủ > Diễn đàn > Ý kiến chuyên gia >
  Một số mảnh ghép gợi mở về kiến trúc Việt Nam hiện nay Một số mảnh ghép gợi mở về kiến trúc Việt Nam hiện nay , 36phophuong.vn
 
Một số mảnh ghép gợi mở về kiến trúc Việt Nam hiện nay

 Diện mạo kiến trúc sẽ ra sao khi đô thị Việt Nam đang mắc phải 3 nhược điểm lớn tác động đến tổ chức không gian: Chất lượng con người đô thị (văn hoá, trình độ lao động), chất lượng xây dựng (kiến trúc toàn cầu hóa và hạ tầng yếu kém), và căn bệnh liên tục bành trướng đô thị “bẩn” ra vành đai xanh ngoại vi, bất chấp tính bền vững???

 

ĐÔ THỊ HÓA LÀ ĐỘNG LỰC PHÁT TRIỂN KIẾN TRÚC?
 
Lần đầu tiên trong lịch sử, có tới hơn một nửa dân số thế giới (hơn 4 tỷ) sống tại các khu vực đô thị. Con số sẽ tăng lên gần 5 tỷ người vào năm 2030 (UN-Habitat, 2008). Hơn 90% tăng trưởng đô thị diễn ra ở các nước đang phát triển như Việt Nam và tới năm 2030-2050, châu Á sẽ chiếm tới 63% dân số đô thị toàn cầu. Sự tăng trưởng dân số đô thị trên toàn thế giới đi kèm với sự gia tăng về số lượng và quy mô của các đô thị. Năm 2000, cả thế giới có khoảng 120 đô thị có dân số hơn 1 triệu người. Con số này tăng lên hơn 160 đô thị vào năm 2015. Đến năm 2025, thế giới sẽ có 26 siêu đô thị (là các đô thị có hơn 10 triệu dân), trong số đó 12 siêu đô thị sẽ nằm ở châu Á, Việt Nam sẽ có 02 đô thị. Sự tăng trưởng đô thị tới 50% đang diễn ra ở các đô thị vừa và nhỏ, nơi sẽ tiếp nhận quá nửa số dân số đô thị mới gia tăng của Châu Á (WB Việt Nam).
 
Tính đến năm 2017, đô thị Việt Nam có 804 đô thị, 10 vùng đô thị hóa và 74.000 điểm dân cư nông thôn đang dịch chuyển theo hướng thị tứ hóa. Hiện nay, ước tính dân số đô thị Việt Nam là 42 triệu người. Số liệu của viện Konrad Adenaur tại Việt Nam đưa ra đến 2030 sẽ là 70,84 triệu dân đô thị, chiếm 70% chứ không phải là 46% theo như số liệu của Bộ Xây dựng. Nếu tính toán của Konrad Adenaur là sát thực tế thì khủng hoảng đô thị ở Việt Nam khó tránh khỏi do dân số tăng nhanh, nhưng hạ tầng đô thị, đặc biệt nhà ở, giao thông bằng phương tiện công cộng sẽ không thể theo kịp. Làm thế nào để dòng di dân nông thôn ra đô thị không biến TP.HCM và Hà Nội thành các siêu thành phố khổng lồ, ngột ngạt vì ô nhiễm và thiếu an sinh xã hội?
 
Đô thị hoá ở các nước đang phát triển như Việt Nam là sự chuyển đổi quan trọng nhất dẫn đến tái cơ cấu các nền kinh tế – xã hội và định dạng lại cuộc sống của hàng tỷ người trên thế giới. Bối cảnh đô thị hóa mới dẫn đến câu hỏi: Diện mạo kiến trúc sẽ ra sao khi đô thị Việt Nam đang mắc phải 3 nhược điểm lớn tác động đến tổ chức không gian: Chất lượng con người đô thị (văn hoá, trình độ lao động), chất lượng xây dựng (kiến trúc toàn cầu hóa và hạ tầng yếu kém), và căn bệnh liên tục bành trướng đô thị “bẩn” ra vành đai xanh ngoại vi, bất chấp tính bền vững?
 
SUY NGHĨ VỀ SỰ DỊCH CHUYỂN CỦA KIẾN TRÚC.
 
Kiến trúc như sản phẩm của cấu trúc kinh tế – xã hội – tính đại diện
 
Các lý thuyết kiến trúc cơ bản đều đề cập đến kiến trúc như sản phẩm của xã hội và lịch sử. Những thay đổi của phong cách, thẩm mỹ và trào lưu kiến trúc đều có nguồn gốc từ mối quan hệ với kinh tế (nền sản xuất – xã hội) và từ đó là sự hình thành cấu trúc văn hoá nghệ thuật.
 
Khi xã hội dịch chuyển, xuất hiện những nhân tố mới, những trào lưu nghệ thuật có điều kiện phôi thai, được phát lộ và chịu tác động trực tiếp của cấu trúc chính trị – xã hội quy định nó. Mối quan hệ này thường không trực tiếp mà theo những con đường phức tạp của quy luật thẩm mỹ – sự cảm nhận và tính đại diện.
 
Một tác phẩm nghệ thuật được cho là có phong cách thẩm mỹ khi có được phương thức biểu cảm riêng. Mặt khác, giá trị nghệ thuật được sáng tạo không vì số đông công chúng, cũng không phải do thói quen hay do sự nổi tiếng của tác giả. Chính điều đó buộc nghệ thuật luôn phải tự khẳng định thông qua một giá trị thẩm mỹ mới được tạo ra trong quá trình lao động sáng tạo.
 
Kiến trúc là nghệ thuật tổ chức không gian phục vụ cho con người, nó cũng tuân thủ các quy luật thẩm mỹ đó, nhưng lại cần tuân thủ những yêu cầu đặc thù của chuyên ngành kiến trúc: Chức năng, các cấu trúc kỹ thuật, tổ chức không gian…
 
Kiến trúc được xã hội nhìn nhận như là các trào lưu, xu hướng, hướng đến phong cách thẩm mỹ có biểu cảm nghệ thuật, mà chỉ có nó mới có thể dẫn đến một xúc cảm riêng biệt với những đặc tính xác định để được nhận diện. Phong cách hay xu hướng đó dần dần sẽ được chấp nhận rộng rãi và được khẳng định bằng một số tác phẩm, tác giả đặc trưng (có tính đại diện).
 
Về bản chất, nghệ thuật luôn đổi mới, luôn tìm kiếm những nguyên tắc mới, những nhu cầu hình thức thẩm mỹ và phong cách biểu hiện mới. Đó là động lực cho sự ra đời các trào lưu mới, dẫn đến sự thay đổi các phong cách nghệ thuật trong các giai đoạn lịch sử.
 
Theo quy luật nói trên, sự thay đổi các trào lưu nghệ thuật được khởi đầu và xác định bởi tập hợp những nguyên nhân sâu xa và phức tạp trong sự thay đổi các cấu trúc kinh tế, kỹ thuật, văn hoá và xã hội của mỗi thời đại.
 
Kiến trúc hiện đại đã bị bỏ qua
 
Kiến trúc là một nghệ thuật duy nhất mang tính nhị nguyên: Vừa là sản phẩm của xã hội, của hoạt động con người; đồng thời lại là chủ thể kiến tạo môi trường không gian bao chứa cho tất cả các hoạt động đó. Điều này tạo nên giá trị đặc biệt của Kiến trúc, thể hiện sự liên quan mật thiết và sâu xa của công trình kiến trúc với con người bản địa.
 
Trong kiến trúc hiện đại dường như đã chỉ rõ: Chủ nghĩa công năng đã mang đến sự hứa hẹn về cuộc cách mạng cải thiện môi trường sống, lập lại trật tự đô thị và sự ổn định, rõ ràng trong tổ chức cuộc sống. Nhưng con người đã tạo ra những thành phố mới khổng lồ, với tốc độ xây dựng đáng kinh ngạc (12 thành phố với 25 triệu dân năm 2030 – theo dự báo của WB). Ban đầu, ở những thành phố đó, chúng ta tưởng rằng có thể tổ chức cuộc sống hợp lý hơn sự thiếu trật tự ở các thành phố lịch sử đã cũ kỹ. Trong “Luận cương về kiến trúc” nổi tiếng của mình, Le Corbusier đã viết: “Kiến trúc hay là Cách mạng” và ông đã đưa ra ý tưởng thiết kế thành phố vườn với các đường phố rộng và thẳng, các khối nhà dài 200m chìm trong cây xanh có thiết kế bên trong thật rõ ràng, hợp lý, đưa sinh hoạt đường phố vào những tòa nhà đó. “Ông vẽ một thành phố thuần nhất cao bằng quá khứ” – (KTS Portzamparc – giải Pritzker 1994). Thật là lý thú biết bao khi nhìn điều đó từ thời điểm năm 1922. Nhưng cũng thật khủng khiếp nếu nhìn từ ngày nay, sau khi chúng ta đã thử đưa tất cả điều đó vào thực tế. Những complex nhà ở khổng lồ, cùng khuôn mẫu với những ngôi nhà dài 200m có mặt ở mọi nơi trên thế giới với thẩm mỹ của “phong cách quốc tế”. Và ở khắp những nơi đó, con người đều gặp phải khó khăn như nhau trong việc định hướng và sinh sống, bởi kiến trúc chỉ thuận tiện với giao thông cơ giới (Than ôi, Hà Nội đang hình thành khu vực như vậy ở Bắc Từ Liêm). Chúng xa lạ với hầu hết lối sống bản địa, mặc dù chúng “trật tự” hơn nhưng lại đánh mất sự giao tiếp, việc làm tại chỗ – Điều mà các con phố cũ đã tạo ra rất tốt. Sau hơn 30 năm, thực tế đã chỉ ra rằng: Không một đô thị mới nào lại tạo ra một môi trường sống có thể so sánh với môi trường của các thành phố cũ, được hình thành từ từ qua nhiều thế kỷ. Sự đánh mất văn hoá, tinh thần và tính nhân bản trong những thành phố thế kỷ 20 đã tạo ra những TP mới, môi trường sống với những “khuyết tật” bẩm sinh – xa lạ với bản chất con người, sự hãnh tiến, tiêu thụ năng lượng thái quá, ô nhiễm, tỷ lệ tội phạm cao, nhiều người nghèo đô thị hơn… Và, không phải ngẫu nhiên mà đây đó người ta bắt đầu phá hủy các block nhà ở để lấy mặt bằng cho các ngôi nhà mới thấp tầng, có thiên nhiên bao quanh, hoặc xây dựng những ngôi nhà sinh thái cao tầng. Nói cách khác, kiến trúc đang tìm cách dần trở về cội nguồn văn hóa và con người.
 
KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN KIẾN TRÚC Ở CÁC NƯỚC TƯƠNG ĐỒNG VỀ VĂN HÓA VÀ KINH TẾ.
 
Xem xét lại kinh nghiệm các nước đang phát triển đã trải qua thời kỳ tương tự cho thấy: Những vấn đề nảy sinh từ quá trình hiện đại hoá nhanh chóng đã thấy rõ qua những ví dụ về kiến trúc Nhật Bản và Mỹ Latin ở đầu thế kỷ 20; trong những thập kỷ tiếp theo, sau thế chiến thứ 2, rất nhiều vùng khác trên thế giới, đặc biệt là ở Châu Phi, Trung và Viễn Đông cũng bị ảnh hưởng nặng nề bởi quá trình này. Ở đây, phải lưu ý rằng: Đôi khi, chủ nghĩa hiện đại được chào đón như là một công cụ có ích để chuyển biến xã hội (như ở Ấn Độ chẳng hạn), đôi lúc nó chỉ đơn giản là một phần trong dự án đầu tư mang tính quốc tế – Trong trường hợp này, sự xuất hiện của nó thường được gắn với những công việc kinh doanh quốc tế, công trình thường thô thiển và thiếu đi sự nhạy cảm của kiến trúc truyền thống, giá trị văn hoá và khí hậu địa phương. Thậm chí, nếu ở đó có những KTS say mê tái thể hiện những yếu tố kiến trúc truyền thống địa phương, thì họ cũng sẽ gặp khó khăn trong việc tìm ra tính bản địa để thích ứng với những chức năng hiện đại. Điều này cũng đang xảy ra ở Việt Nam hiện nay:
 
Xung đột giữa cái mới và cái cũ luôn là một dạng khủng hoảng của quá trình công nghiệp hoá. Nhưng có ít nhất hai sự khác nhau cơ bản: Trường hợp thứ nhất, những quốc gia “tiên tiến” tự tạo ra cuộc cách mạng công nghiệp (industrial revolution) và đã phải trải qua gần một thế kỷ để điều chỉnh những thay đổi có ảnh hưởng sâu rộng về mặt văn hoá và xã hội đi kèm với nó; Trường hợp thứ hai, các nước thế giới thứ 3 phát triển nhanh chóng trong thập kỷ 60,70 và 80 (ví dụ như Iran và Nigeria, Hàn quốc, Malaysia…) với những công cụ có nguồn gốc kỹ thuật, vật liệu từ bên ngoài (trong đó có kiến trúc). Không có gì ngạc nhiên về sự đảo lộn giữa cái mới và cũ, đô thị và nông thôn về mặt văn hoá – xã hội có lẽ cùng xuất hiện thời điểm này.
 
Người ta nhận thấy thời kỳ này, những tầng lớp “mới phất” dường như muốn tách bản thân ra khỏi những giá trị lịch sử của quê hương họ để chạy theo cái gọi là “sự tự do tiêu dùng” của phương Tây. Họ ham muốn những hình ảnh hào nhoáng, chú trọng vào sự phô trương và loè loẹt để có thể khẳng định vị thế riêng của mình. Trong khi các công trình kiến trúc trông có vẻ bề ngoài hiện đại (không phải là kiến trúc hiện đại đích thực) còn đang được xem xét ở phương Tây thì chúng đã trở nên thịnh hành ở thế giới thứ ba. Mỉa mai thay, quá nhiều quốc gia vừa mới được giải phóng khỏi sự cai trị thuộc địa lại nhanh chóng bị thuyết phục sử dụng lại những dạng thức kiến trúc phương Tây đã lạc hậu ngay ở chính quốc – Hội chứng Kiến trúc Pháp cổ ở Việt Nam chẳng hạn.
 
Thiết kế hiện đại mang tính quốc tế rẻ tiền với những tiêu chuẩn sáo rỗng thường có những tấm kính phẳng lớn, thịnh hành ở các nước nghèo thực chất là những ban công hình bầu dục, sảnh với những cửa sổ kính mầu, những khung bê tông màu trắng… đang hút nguồn tài chính dành cho xây dựng của các quốc gia này. Le Corbusier đã đúng khi ông đưa ra ý kiến rằng: Máy móc đã gây ra một cuộc cách mạng tự thân của nó và đã vượt qua cả ý thức hệ xã hội. Kiến trúc hiện đại đang cố gắng giải quyết vấn đề của mình ở phương Tây thì giờ đây đang gây ảnh hưởng ở những nơi đang phát triển.Vấn đề này có thể lý giải nguyên nhân tại sao Việt Nam chưa thể có Kiến trúc riêng của mình như thời kỳ trước trong lịch sử.
 
Con đường để thoát khỏi bế tắc này là cố gắng kết hợp những giá trị bản địa và giá trị du nhập. Tuy nhiên phải tránh “Chủ nghĩa Bản Địa rởm” – với sự gắn kết một vài mô – tip mang tính lịch sử bề nổi của nó. Có lẽ hợp lý hơn cả là cần tìm kiếm “chủ nghĩa hiện đại khu vực” (local modernism) đã bắt đầu ở một vài nước vào thập kỷ 30, ở Việt Nam là phong cách Đông Dương cũng vào thời kỳ này. Xu hướng này tiếp diễn dưới những hình thức khác vào những thập kỷ 40-50 trên thế giới, ở miền Nam Việt Nam những năm 60,70. Đây là nỗ lực nhằm rút những kinh nghiệm truyền thống địa phương và hoà trộn chúng với ngôn ngữ kiến trúc hiện đại, có chọn lọc và kiểm chứng thông qua sự diễn giải kiến trúc. Con đường tìm kiếm sự biểu đạt thích ứng với địa phương, tạo thành một hình thức hiện đại, phù hợp với những điều kiện xã hội là một hướng đi hợp lý.
 
Các qui tắc mới, đúng đắn nhất trong Kiến trúc hiện đại là: Sự tìm kiếm bản sắc địa phương, phù hợp với người dân và địa điểm
 
Tuy nhiên, không có một lối ra nào có thể đảm bảo thành công khi những người chưa đạt độ chín về chuyên môn đang nắm các cơ hội hành nghề, gây nguy cơ tạo ra các công trình kiến trúc không hài hoà giữa các biểu hiện truyền thống và hiện đại – Như thực tế ở Việt Nam của chúng ta hiện nay.
 
Sự thông thương giữa những quốc gia đã và đang thực hiện công nghiệp hoá cũng đã có những sự xung đột về cách thức thiết kế và xây dựng. Kiến trúc hiện đại cho rằng có một sự phân chia trong lao động giữa các KTS, nhà sản xuất, kỹ sư và những người thợ xây dựng, nhưng ở nhiều nước “kém phát triển”, sự phân chia này ít hơn Kiến trúc đắt tiền nhập khẩu, được sản xuất hàng loạt nhưng hoàn toàn không tính đến một chút kinh nghiệm và thực tế địa phương về xây dựng và lao động. Đây là vấn đề lớn, kết quả là các Kiến trúc hiện đại trở nên mâu thuẫn với những kinh nghiệm truyền thống thủ công lâu đời hàng thế kỷ trong việc xử lý kỹ thuật và vật liệu địa phương.
 
Tính hợp lý thực tế của phong cách địa phương bị hạ thấp, những chi tiết và trực giác tinh tế của người thợ thủ công đã bị thay thế bởi những thành phần xây dựng mang tính công nghiệp, xấu xí, hàng loạt và vô cảm. Đây cũng là nguyên nhân dẫn đến bộ mặt kiến trúc tạp nham hiện nay. Chúng ta có thể viện dẫn câu của Hanssan Fathy, một KTS khởi nguồn cho xu hướng tìm tính địa phương trong Kiến trúc hiện đại: “Hiện đại không bắt buộc có nghĩa là sự xáo trộn, và sự thay đổi không phải luôn luôn để trở nên tốt hơn…Truyền thống không có nghĩa là lạc hậu và cũng không đồng nghĩa với sự không phát triển. Truyền thống là sự tương đồng mang tính xã hội của thói quen con người – Và, trong nghệ thuật nó có hiệu quả tương tự như giải phóng người nghệ sĩ khỏi những ảnh hưởng và những quyết định không cần thiết, để anh ta có thể tập trung toàn bộ cho những quyết định quan trọng nhất trong tác phẩm”.
 
Phần lớn các trào lưu kiến trúc đều là sản phẩm của xã hội. Những giá trị tôn giáo, khí hậu, công nghệ, và các cấu trúc chính trị xã hội quyết định yêu cầu và phong cách của kiến trúc. Ngày nay, với việc đi lại bằng máy bay, những phương tiện thông tin liên lục địa, phim ảnh, các cấu trúc kinh tế toàn cầu và giao lưu văn hoá… thế giới trở nên nhỏ bé hơn và rất nhiều ảnh hưởng qui định phong cách kiến trúc mang tính quốc tế dựa trên công nghệ và kinh tế học… Nhưng ngay cả khi chấp nhận phong cánh Quốc tế thì công nghệ và nhân tố kích thích từ bên ngoài không nên thắng thế các nhân tố truyền thống. Các qui tắc mới, đúng đắn nhất trong thực tế Kiến trúc hiện đại là: Sự tìm kiếm bản sắc địa phương, phù hợp với người dân và địa điểm
 
KIẾN TRÚC VIỆT NAM – NHỮNG BƯỚC CHÂN RA VỚI THẾ GIỚI.
 
Kiến trúc hiện đại bắt đầu từ tư tưởng công nghiệp hoá ở phương Tây đã nhanh chóng trở thành toàn cầu hoá, và trong lịch sử chưa có thời kỳ nào kiến trúc lan toả rộng rãi như vậy. Nhìn nhận vấn đề này từ góc độ người sáng tác kiến trúc là một vấn đề không mới, nhưng sẽ làm sáng tỏ thêm một số con đường hiện đại hoá Kiến trúc Việt Nam.
 
Sau những năm 1940 và 1950, kiến trúc hiện đại vươn tầm ảnh hưởng đáng kể lên những quốc gia “kém phát triển” – Và ở đây chúng thường thiếu chất thơ và chiều sâu tư tưởng để có thể trở thành kiệt tác của trào lưu hiện đại. Chủ yếu những nước đang phát triển du nhập hình mẫu của “phong cách quốc tế” do tính hợp lý trong sử dụng và giá thành xây dựng rẻ. Kiến trúc hiện đại dạng này nhanh chóng đối lập với sự lạc hậu và chậm phát triển của truyền thống ở đó để tác động nhanh chóng lên xu hướng phát triển đô thị và kiến trúc địa phương.
 
Xu hướng hiện đại phát triển nhanh chóng trong thập niên 60,70 (tại Đông Nam Á, Irắc, Nigieria…) đã chuyển nền kinh tế nông thôn, nông nghiệp sang nền kinh tế đô thị và công nghiệp chỉ trong một thế hệ. Những phương tiện hiện đại (trong đó có kiến trúc hiện đại) du nhập từ bên ngoài đã gây nên sự đảo lộn giữa mới – cũ, đô thị – nông thôn về mặt văn hoá và xã hội. Cho đến nay, các trung tâm đô thị đã mọc lên nhanh chóng trên thế giới và cả Đông Nam Á dường như cũng mang sắc thái của các khu Manhantan, New York hơn là sắc thái địa phương, dân tộc mà kiến trúc lịch sử của họ đã lưu truyền lại hàng ngàn năm trước.Trong suốt thế kỷ 20, kiến trúc hiện đại quốc tế đã tỏ rõ ưu điểm về kỹ thuật và hiệu quả trong hoạt động. Nhưng chúng lại xa lạ với kiến trúc cảnh quan văn hóa và cảnh quan tự nhiên của địa điểm. Yếu điểm này của kiến trúc quốc tế càng bộc lộ rõ khi kinh tế tăng trưởng, con người không chỉ cần một không gian tiện nghi mà lớn hơn cả là không gian tinh thần, không gian thẩm mỹ (điều mà kiến trúc truyền thống qua nhiều thế kỷ đã tạo dựng được).
 
Kiến trúc hiện đại có mặt tại Việt Nam – những thời kỳ đầu tiên rực rỡ
 
Sự thèm khát thiên nhiên, cảm nhận được vẻ đẹp của con người, địa điểm, sự gắn bó với một vùng đất… làm con người hiện đại ngày càng hướng tới một nền kiến trúc địa phương nhưng vẫn khai thác hiệu quả các vấn đề về tổ chức chức công năng và phương tiện kỹ thuật của kiến trúc hiện đại. Phải chăng đây cũng là tư tưởng chúng ta muốn hướng tới?
 
Nền Kiến trúc Việt truyền thống nảy sinh từ cuộc sống cần lao nuôi dưỡng trong văn hoá làng xã hàng ngàn năm đã đạt được sự kết tinh của vẻ đẹp và giá trị sử dụng. Căn tính của Kiến trúc Việt phải chăng là sự kiệm lời, linh hoạt trong tổ chức không gian, chức năng, biểu đạt tinh thần thẩm mỹ của sự hoà nhập – với thiên nhiên, cây cỏ, bầu trời?!
 
Thử nhìn lại Kiến trúc Việt Nam những chặng đầu tiên tiếp xúc giao thoa với kiến trúc hiện đại thế giới. Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương ra đời năm 1925 đã đưa ra tôn chỉ đào tạo các nghệ sỹ, KTS những tri thức về phương Tây (được hiểu là nghệ thuật hiện đại thời kỳ đầu) và cả phương Đông – như một phong cách bản địa và thực sự phải phát huy được “sức sáng tạo của Việt Nam” (theo Carinne D.M). Tư tưởng này đã làm nên một thế hệ KTS thứ nhất ở Việt Nam với sự ra đời phong cách Đông Dương nổi tiếng (Indochina Style – KTS tiên phong Ernest Hébrard), để lại dấu ấn trong lịch sử kiến trúc Việt Nam thời cận và hiện đại. Các KTS thế hệ thứ nhất của trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương sử dụng kỹ thuật và vật liệu mới, nhưng không bao giờ xa rời vẻ đẹp mộc mạc, thanh tao của Kiến trúc Việt truyền thống, vốn chống lại sự mầu mè, phô trương, nặng nề.
 
Thời kỳ hoà bình lập lại, kiến trúc miền Bắc Việt Nam có nền tảng xã hội chủ nghĩa với phương châm thiết kế: “Thích dụng, bền vững, mỹ quan trong điều kiện có thể”. Kiến trúc thời kỳ này có nhiều cống hiến khi ra đời một phong cách trong sáng, cô đọng, phù hợp với đời sống cán bộ công nhân viên chức XHCN, về thực chất gần gũi với kiến trúc công năng thời kỳ đầu.
 
Trong chiến tranh chống Mỹ, kiến trúc hiện đại vẫn phát triển ở nước ta thông qua các nguyên lý kiến trúc của trường phái Xô Viết, toàn diện hơn, đầy đủ hơn, chú trọng đến công nghiệp hoá cấu kiện, tính thống nhất của hệ thống modul và tiêu chuẩn hoá các loại hình kiến trúc. Đây cũng chính là nền tảng quan trọng về học thuật để đào tạo và sáng tác kiến trúc. Kiến trúc Việt Nam thời kỳ này phát triển đầy đủ các loại hình thông dụng: Trường học, nhà ở, chung cư, nhà văn hoá, trụ sở, bách hoá, nhà máy… với ngôn ngữ kiến trúc giản dị, ảnh hưởng bởi kiến trúc Liên Xô cũ (còn nhiều dấu vết ở cấu tạo mái và hệ thống panel sàn) các sáng tác kiến trúc tốt đều mang tính cơ bản của các nguyên tắc loại hình kiến trúc (typology) và thống nhất về phong cách (chủ yếu là các hình hộp chạy dài, ít trang trí như là các trường đại học, các chung cư lắp ghép tấm lớn…).
 
Ở miền Nam Việt Nam, những năm 50, 60 (thế kỷ 20) các KTS thế hệ thứ hai của trường Mỹ thuật Đông dương đã theo đuổi tư tưởng của thế hệ thứ nhất thông qua việc sử dụng tối đa nguyên tắc thiết kế khí hậu bản địa. Những công trình hiện đại như Dinh độc lập, Đại sứ quán Mỹ, Khu nhà ngân hàng cao tầng trên đường Nguyễn Huệ, Đại học Y… đều có chung một ngôn ngữ của phong cách Kiến trúc hiện đại nhiệt đới nổi tiếng cả Đông Nam Á thời đó, tạo nên tính bản địa cao của Kiến trúc hiện đại Việt Nam. Thời kỳ này bằng Kiến trúc của Trường ĐH Kiến trúc Sài gòn có giá trị hành nghề quốc tế.
 
Từ thời kinh tế thị trường năm 1985 đến nay
 
Từ thời kinh tế thị trường năm 1985 đến nay, kiến trúc Việt Nam đổi thay mạnh mẽ. Đô thị hoá rộng khắp và các dự án mọc lên như nấm (sau 1996). Các loại hình kiến trúc của thời kỳ phát triển này là nhà chia lô, khách sạn, văn phòng cho thuê, khu công nghiệp, chế xuất tập trung và các khu đô thị mới cao tầng. Nhưng về phong cách và tính thẩm mỹ, thậm chí về công năng lại tụt hậu đáng kể so với thời kỳ trước. Ở các khu đô thị lớn, do hệ quả của dự án, thành phố đã bị xé lẻ thành những mảnh riêng biệt, ngôn ngữ kiến trúc vụn vặt chắp vá, tính tổng thể xưa kia vốn là nền tảng cho vẻ đẹp đô thị nay bị phá vỡ, làm tổn hại nặng nề đến bộ mặt thành phố. Có thể nói “thành phố đứt gẫy” tương đồng với thuật ngữ “thành phố bị phá vỡ cấu trúc” đang đại diện cho kiến trúc đô thị Việt Nam thời mở cửa.
 
“Sau mở cửa năm 1985, giới kiến trúc tỏ ra lúng túng trước quá nhiều ngả đường thể hiện qua tính chất lai tạp Á – Âu, kim – cổ, không có sự nhất quán trong tư tưởng nhận thức thiết kế như thời kỳ trước. Cuối cùng, sau 20 năm, kiến trúc sa vào chủ nghĩa hình thức lạc hậu và lãng phí” (KTS Tôn Đại). Nhiều hội chứng “kiến trúc Pháp”, “kiến trúc Thái”, “củ hành, củ tỏi”, mái úp, mái xoè mà như nhà lý luận kiến trúc W.Curtis đã bình luận: “Các kiến trúc tạp nham xa lạ thời kỳ đổi mới ở Việt Nam có thể giải thích một phần nào do những tầng lớp mới phất muốn tách bản thân họ ra khỏi những giá trị quê hương họ để chạy theo văn hoá tiêu dùng phương Tây. Họ ham muốn những hình ảnh hào nhoáng, hợm hĩnh, dùng hàng nhái, hàng rởm để khẳng định vị trí riêng của họ. Tình trạng này giống như một số nước châu Mỹ Latinh thập niên 50, 60 của thế kỷ 20”.
 
Kiến trúc Việt Nam đổi thay mạnh mẽ. Đô thị hoá rộng khắp và các dự án mọc lên như nấm (sau 1996). Nhưng về phong cách và tính thẩm mỹ, thậm chí về công năng lại tụt hậu đáng kể so với thời kỳ trước.
 
Hệ quả của “sự bơ vơ” về tư duy đô thị hiện nay thể hiện sự hẫng hụt trong học thuật và lý luận đô thị, kiến trúc và văn hóa đô thị. Kiến trúc thời bao cấp không còn đáp ứng được xã hội. Kiến trúc mới chưa kịp ổn định thì gặp phải làn sóng dự án đầu tư vì mục đích thương mại, vùi lấp các khoảng sáng để lại nhiều khoảng trống và miền tối trong sự hình thành văn hóa mới trong đô thị.
 
ĐÂU LÀ LỐI RA CHO KIẾN TRÚC VIỆT NAM?
 
Cũng từ nền tảng văn hóa, địa lý, khí hậu để thử đề xuất vài ba hướng đi cho giới chuyên môn chúng ta có thể tìm kiếm các giải pháp thích hợp cho đô thị – kiến trúc Việt Nam:
 
Mở ra sự đa dạng của kiến trúc trên nền của không gian địa lý Việt. Vốn sinh ra từ nền tảng địa lý – nhân văn rất khác biệt theo vĩ tuyến suốt Bắc – Trung – Nam dài 3000km, chiều ngang hạn hẹp theo kinh tuyến, ở mỗi miền đều qua núi cao, trung du, đồng bằng, duyên hải, có khí hậu, môi sinh riêng do các vùng sinh thái không đồng nhất. Tính đa dạng làm chỗ dựa cho nền kiến trúc phong phú, nhiều sắc thái, có chung động lực của công nghệ – kỹ thuật, vật liệu mới sẽ tạo nên ngôn ngữ thống nhất của Hiện đại – Bản địa.
 
Nhỏ là Đẹp – Gần với tư duy người Việt? Trong đô thị liệu có nên thay thế dạng đô thị mà đặc trưng là Phố và Nhà phố, thuộc về phương thức sinh sống nhỏ, mà đặc trưng là kinh tế hộ gia đình bền vững (bám vào các trục lộ, mặt nhà, hè phố, lòng đường để buôn bán) vốn là bản chất của người Việt (chắc còn tồn tại khá lâu nữa)? Liệu kiểu dự án các Khu đô thị – phòng ngủ như hiện nay, thiếu vắng việc làm và dịch vụ đời sống thiết yếu tại chỗ, có làm nên kiểu “kiến trúc mì ăn liền” bạt ngàn trong các thành phố hiện nay? Hay chúng ta lại quay về với sự “Nhỏ là Đẹp” của không gian phố xưa nhà cũ?
 
Tiếp cận sinh thái học bản địa để tạo các “ego” cá tính nghệ thuật trong kiến trúc. Con người không chỉ là một thực thể xã hội, mà còn là một thực thể sinh học – xã hội (biosocial), yếu tố sinh học nền tảng của nó biến đổi theo yếu tố xã hội ở những mức độ nhất định, nhưng tính xã hội cũng bị qui định trong những giới hạn sinh học, dù những giới hạn này không cố định:
 
Như vậy, một không gian xã hội phù hợp nhất với con người, có tính nhân bản không phải là một xã hội chỉ cần dọn dẹp môi trường chung quanh để thích hợp với “tính tăng trưởng” của nó; cũng không phải là một xã hội khuôn theo những công thức lý tưởng nào đó nhân danh chính quyền áp đặt những công thức đô thị và giới kiến trúc chỉ có việc “nhào nặn” lại cho thích hợp. Một nền kiến trúc cần được tổ chức sao cho những bản tính của con người tồn tại một cách tự nhiên, tạo ra những không gian sống tối ưu cho sự phát triển toàn diện và tự do cho mỗi cá nhân con người – Chủ nghĩa nhân văn mới gọi điều này là các “ego cá nhân” sáng tạo, độc lập để kết nối thành các “ego cộng đồng” văn minh của đô thị. Muốn như vậy, kiến trúc mới phải có tư duy phát triển xứng với sự chờ đợi của con người nhân văn mới.
 
Chúng ta đang ở vận hội mới của kiến trúc thế giới khi nền văn minh tri thức đã lộ diện.
 
Biết bao nhiêu sáng tạo của con người đã thay đổi tận cội rễ đời sống. Không gian và thời gian sống dường như mở rộng, trải nghiệm dài hơn với mỗi người qua màn hình tivi, internet và tốc độ đi lại… Không gian kiến trúc đã được giải phóng khỏi các bức tường và khẩu độ của dầm bê tông bằng công nghệ mới, vật liệu nhẹ, thông minh và đa năng – Mục đích là mang lại cho con người các giải pháp tiết kiệm tối đa năng lượng, nước sạch, tài nguyên và thật nhiều không khí, cây xanh, sức khoẻ. Sao chúng ta không đi vào xu hướng này? Nên tổ chức những cuộc thi xem ai có thể tạo ra các toà nhà dùng ít năng lượng nhất, có nhiều sáng kiến để chống lại các bất lợi khí hậu và tiết kiệm tài nguyên nhất; thi thiết kế những ngôi nhà thông minh ở biển, ở núi cao, ở khu đô thị chật chội, những ngôi nhà có khả năng tự điều chỉnh thích ứng với môi trường bên ngoài với tên gọi khiêm nhường nhưng chứa đựng tính nhân văn sâu sắc: “Nhà cacbon thấp”, “Nhà sinh thái mới”, “Nhà xanh”…
 
Phải chăng, đây vẫn là những ý tưởng xa xỉ với kiến trúc Việt đang chạy theo thị hiếu của thị trường kiến trúc đang bị thương mại hóa quá mức?
 
PGS.TS.KTS Nguyễn Hồng Thục
(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 01-2018)

  Bình luận của bạn
(*) Họ tên:  
(*) Email:  
(*) Tiêu đề:  
(*) Nội dung:  
Mã: 

Nội dung các bình luận
 

  Các Tin khác
  + "Hòn ngọc Viễn Đông" có phải là thành tựu của Việt Nam Cộng hòa? (28/05/2018)
  + Phá huỷ di sản và đất nước ‘4.000 năm vẫn trẻ con’ (07/05/2018)
  + Ts. Nguyễn Quốc Tuấn (Viện trưởng Viện Nghiên cứu Tôn giáo) đề nghị giữ nguyên trạng nhà thờ Thủ Thiêm và Hội dòng Mến Thánh Giá Thủ Thiêm (05/05/2018)
  + Báo động ở Hội An (08/04/2018)
  + Hà Nội cần khai thác tối đa giá trị di sản kiến trúc cổ (09/03/2018)
  + Ngày xuân, thử nghĩ lại về làng (20/02/2018)
  + Hà Nội “ăn theo” di sản? (21/01/2018)
  + Chuyện tưởng nhỏ hóa ra không nhỏ (09/01/2018)
  + Đã có thể khép lại câu chuyện gây tranh cãi: Chân dung vua Quang Trung (03/01/2018)
  + Phó giáo sư Bùi Hiền nên dừng lại (31/12/2017)
 
 
Trang chủ Nội quy Liên hệ Lên đầu trang  
Xa lộ thông tin    Cuộc sống    Thăng Long-Hà Nội    Phố Hà Nội    Nét văn hóa    Những giá trị bảo tồn    Cải tạo, tu bổ, bảo tồn    Quy hoạch - Đô thị    Địa ốc-phong thủy    Diễn đàn    Người đẹp    Thời trang    Du lịch    Thể thao-Sức khỏe    Ẩm thực    thư giãn    Mỹ thuật    Âm nhạc    Trang ảnh xưa    Góc chụp ảnh   

vietarch-kiến trúc sáng tạo