36phophuong.vn     
Trang chủ
Xa lộ thông tin
Cuộc sống
Thăng Long-Hà Nội
Phố Hà Nội
 Phố Facebook
 Cửa hàng Fanpage
 Tên địa danh tên phố qua các thời kỳ
 Tản mạn chuyện phố
Nét văn hóa
Những giá trị bảo tồn
Cải tạo, tu bổ, bảo tồn
Quy hoạch - Đô thị
Địa lý- phong thủy
Diễn đàn
Người đẹp
Thời trang
Du lịch
Sức khỏe
Ẩm thực
thư giãn
Mỹ thuật
Góc học tập
Trang ảnh xưa
Góc chụp ảnh
Trang chủ > Phố Hà Nội > Tên địa danh tên phố qua các thời kỳ >
  Nghĩa Đô, một xã bốn thôn Nghĩa Đô, một xã bốn thôn , 36phophuong.vn
 
Nghĩa Đô, một xã bốn thôn

 Vùng Bưởi có đến hơn chục làng. Thuở xưa xa, đây là nơi hợp lưu của sông Thiên Phù và sông Tô Lịch, sau sông Thiên Phù bị bồi lấp, sông Tô Lịch cạn dòng, nhà cửa mọc lên san sát, đông đúc.

 

Tương truyền, khi mới rời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long, năm 1011, vua Lý Thái Tổ đã đi thuyền rồng ra chơi vùng Bưởi. Dân chúng Kẻ Bưởi tập trung về bến Giang Tân để đón vua ngự giá. Thấy có tấm lĩnh vẽ rồng trương lên đón chào nhà vua, Lý Thái Tổ hỏi chuyện dân chúng, và đã được các cụ già cho biết: Tấm lĩnh do dân xóm Bãi dệt, dân làng Nghè có nghề làm giấy sắc đã vẽ rồng. Vua khen là dân thật có nghĩa, bèn cho đổi gọi làng Tân, làng Nghè, làng Dâu thành xã Nghĩa Đô (dân Kinh đô có nghĩa), và xóm Bãi đổi gọi là Bái Ân (ơn thấm rộng khắp)...
 
Câu phương ngữ nổi tiếng: "Nghĩa Đô một xã bốn thôn...", nói đầy đủ theo Hán ngữ là: "Nghĩa Đô nhất xã, tứ thôn, tam đình, nhị tự". (Nghĩa Đô một xã bốn thôn, ba đình, hai chùa). Bốn thôn đó là: làng Tân, tên chữ là Tiên Thượng; làng Nghè, tên chữ là Trung Nha; làng Dâu, tên chữ là Vạn Long; và An Phú, là làng mới, không có tên nôm. Làng Tân có hơn ngàn năm đã đông đúc dân cư, bên sông Tô và sông Thiên Phù, có bến Giang Tân sầm uất trên bến dưới thuyền. Làng Tân xưa có ngôi đình chung với làng Nghè, mãi đến năm Gia Long mười ba, 1815, mới dựng đình riêng ở ngay cạnh đình Nghè, thờ ông bà Vũ Phục. Hiện ở vị trí giáp giới hai đình còn tấm bia vuông bốn mặt, gọi là bia chia đình. Bia ghi rằng, đất này xưa là Thiên Hương ấp có hai thôn Tiên Thượng và Trung Nha thuộc xã Nghĩa Đô huyện Từ Liêm, phủ Quốc Oai. Chùa làng Tân vốn từ xưa xa là chùa công, nhưng thời Lý có lính nhà vua về chăn ngựa ở đây, không may ngựa lăn ra chết, sư trụ trì sợ vạ nên bỏ trốn biệt. Dân làng cũng không dám nhận chùa của làng mình. Về sau, có viên quan thị là Nguyễn Bông xin cho làng khỏi tội. Rồi Hoàng Phi về thăm chùa, cấp tiền tu sửa chùa rồi giao cho họ Đỗ trông nom. Vậy nên chùa thành chùa của họ Đỗ... Giáp làng Tân là làng Nghè, làng lớn nhất xã Nghĩa Đô. Gọi là làng Nghè bởi làng có nghề làm giấy sắc, phải nghè (ghè) rất nhiều lên sản phẩm, và cũng bởi làng nhiều người đỗ ông nghè (tiến sỹ). Làng Nghè tên chữ là Trung Nha, từ xưa đã có hai nghề thủ công nổi tiếng thiên hạ là: làm giấy sắc chuyên cung cấp  cho triều đình và dệt lĩnh rất đẹp. Làng có ngôi đình cổ, thờ Lê Hồng Nương và Lê Quế Nương cùng tướng Trần Công ích đã có công trong cuộc chiến đấu chống xâm lược Tống năm 981 ở Chi Lăng, được vua Lê Đại Hành ban cho 4 chữ Bình Tống hưng Lê.
 
Cho đến nay, theo các sách đăng khoa lục và cả sự lưu truyền trong dân chúng, làng Nghè có ba người đỗ tiến sỹ.       Vị tiến sỹ khai khoa cho làng là Nguyễn Lan, sinh năm Canh Thân 1440. Năm 33 tuổi ông đỗ khoa Nhâm Thìn, niên hiệu Hồng Đức thứ ba 1472 đời Lê Thánh Tông. Sau, ông làm quan đến chức Hình khoa đô cấp sự trung. Người thứ hai của làng Nghè đỗ tiến sỹ là Nguyễn Quốc Nham, đỗ khoa ất Mùi 1775. Người thứ ba là Nguyễn Khâm, chúng tôi chưa có tài liệu cho biết đỗ khoa nào, chỉ nghe truyền lại trong làng. ở làng Nghè thuở xưa có ngõ Noi thông sang Cổ Nhuế (Kẻ Noi là tên Nôm, tên chữ là Cổ Nhuế). Tương truyền, ngày xưa xa, hai làng gắn bó thân thiện như một. Ông nghè Kẻ Noi là Hoa Quý Khâm (đỗ khoa Quý Mùi 1763, sau làm Quốc sư dạy Thái tử) chơi rất thân với ông Nghè làng Nghè là Nguyễn Quốc Nham. Không biết có phải từ chuyện truyền tụng này mà dẫn đến việc nhiều người coi làng Nghè có ba vị tiến sỹ? Xin coi đây là một nghi vấn.
 
Giáp làng Nghè là làng Dâu, tên chữ là Vạn Long. Thuở xa xưa, làng này là bãi trồng dâu bên bờ sông Tô Lịch. Rồi thành làng, có nghề trồng dâu nuôi tằm. Tiếp nữa, làng có nghề dệt lụa, dệt lĩnh đẹp nổi tiếng. Làng Dâu có ngôi chùa cổ. Tương truyền từ xưa có thờ Ngãi Hổ tạc bằng đá, đặt ở vị trí chắn cái góc nhọn của thành Thăng Long chĩa vào làng (có lẽ là góc thành đường Hoàng Hoa Thám và đường Bưởi ngày nay). Họ Đoàn là những người ở làng Dâu lâu đời. Họ này có Đoàn Nhân Thục, đã đỗ Hoàng Giáp khoa Nhâm Tuất 1502 niên hiệu Cảnh Thống thứ 5 đời vua Lê Hiển Tông. Ông làm quan đến chức Hiến sát sứ. Phía dưới làng Dâu là làng An Phú. Đây là một làng mới, không có tên Nôm. Theo truyền tụng, khởi lập làng là viên quan Trần Phúc Diên, quê gốc Thanh Hóa, do có công phù Lê diệt Mạc nên được phong đất ở Nghĩa Đô, lập trại là An Phú trại. Họ Trần này sau có Trần Toàn sinh năm 1663, đỗ Tiến sĩ khoa Canh Thìn 1700, niên hiệu Chính Hòa 21 đời vua Lê Hy Tông. Sau, ông làm quan đến chức Tham chính. Có thuyết nói họ Trần này có gốc từ Trung Quốc, nhưng không có cứ liệu chắc chắn. Chúng tôi, ghi theo truyền tụng trong dân làng. Chính ông Trần Toàn đứng ra xây ngôi đình làng và mua sắm nhiều đồ tế tự quý cho đình, như hạc đồng, tượng gỗ... Và, ông cũng là người đem nghề nấu kẹo mạch nha về huớng dẫn cho người dân An Phú làm...
 
Ngày xưa, cả xã Nghĩa Đô vừa làm ruộng vừa làm các nghề thủ công như nghề dệt lụa, lĩnh, nghề làm giấy, nghề nấu kẹo là đặc sản của An Phú. Vừa làm nông nghiệp, chăn nuôi vừa nấu kẹo, nên từ xưa có điều kiện chăn nuôi lợn rất giỏi. Vậy nên có câu ca: "An Phú dẻo kẹo mạch nha/Lợn hồng da mượt như là trong tranh...". Nuôi nhiều lợn, nhưng đường làng An Phú lát gạch, khang trang sạch sẽ. Hàng năm, vào hội mùa xuân, có tổ chức hát trống quân. Vào hội, người hát phải tự đặt ra những lời ca ngợi làng xóm quê hương và cũng thật tình tứ:
 
Cô kia đội nón đi đâu?
 
Có về An Phú làm dâu thì về
 
An Phú có ruộng có bề
 
Có sông tắm mát có nghề Kẹo nha...
 
Ở cuối làng An Phú có lối sang Dịch Vọng Tiền, xưa kia có ngôi miếu cổ. Đến thế kỷ XX, khu vực này có nhiều cây cổ thụ um tùm, và người đời gọi là Quán Đôi. Quán là nơi thờ tự của Lão giáo. Nhưng tương truyền đây lại là nơi thờ phụng hai mẹ con Hoàng hậu và Hoàng tử, vợ và con của Lý Nam Đế. Thời ấy, giặc Lương vây chiếm kinh thành, bà Hoàng hậu đem Hoàng tử chạy ra vùng này, náu trong vườn cây, nhưng quân lính của Trần Bá Tiên dùng giáo đâm chết. Dân địa phương đã lập nên miếu thờ này...
 
Có thể nói, Nghĩa Đô cùng các làng xã lân cận, đều nằm trên vùng đất rất cổ bên vùng sông Thiên Phù hợp lưu sông Tô Lịch; Thiên Phù xưa còn gọi là sông Đà La; là vùng linh thiêng với nhiều chùa, quán rất cổ kính, như chùa Hang và quán Khai Nguyên ở bên Xuân La, như Quán Đôi ở chỗ An Phú giáp Dịch Vọng... Chúng tôi nêu lại phần nào trong bài viết này, để chúng ta quan tâm đến những di tích đó như là quan tâm đến những thành tố văn hóa phong phú góp phần tạo nên văn hóa Thăng Long - Hà Nội ngàn năm văn hiến!
 
Tân An - hanoimoi.com.vn

  Bình luận của bạn
(*) Họ tên:  
(*) Email:  
(*) Tiêu đề:  
(*) Nội dung:  
Mã: 

Nội dung các bình luận
 

  Các Tin khác
  + Tìm dấu sông Thiên Phù ở kinh thành Thăng Long xưa (09/10/2017)
  + Café Lú (07/10/2017)
  + Cà phê Phố: Những chú ý cho những người mới đi xin và làm việc (03/10/2017)
  + Cà phê Phố: Với chủ đề bộ phim "The Vietnam War" (03/10/2017)
  + Cà phê Phố: Với chủ đề: 80 năm bài hát Việt- Nhạc tình Trịnh Công Sơn tại "Cà phê thứ Bảy " (14/09/2017)
  + Cà phê phố: Câu lạc bộ xe máy (11/09/2017)
  + Cà phê phố: Xe máy phân khối lớn và thị trường Châu Á (11/09/2017)
  + Cà phê phố: Độ và thú chơi xe máy cũ, cổ (11/09/2017)
  + Cà phê phố: Xe máy trong đời sống đô thị (11/09/2017)
  + Cà phê Phố: Cà phê thứ bẩy với chủ đề: GẶP GỠ & ĐỐI THOẠI (11/09/2017)
 
 
Trang chủ Nội quy Liên hệ Lên đầu trang  
Xa lộ thông tin    Cuộc sống    Thăng Long-Hà Nội    Phố Hà Nội    Nét văn hóa    Những giá trị bảo tồn    Cải tạo, tu bổ, bảo tồn    Quy hoạch - Đô thị    Địa lý- phong thủy    Diễn đàn    Người đẹp    Thời trang    Du lịch    Sức khỏe    Ẩm thực    thư giãn    Mỹ thuật    Góc học tập    Trang ảnh xưa    Góc chụp ảnh   

vietarch-kiến trúc sáng tạo