36phophuong.vn     
Trang chủ
Xa lộ thông tin
Cuộc sống
Thăng Long-Hà Nội
Phố Hà Nội
Nét văn hóa
 Văn nghệ online
 Văn hóa nghệ thuật
 Văn hóa xã hội
 Nhân vật và sự kiện
Những giá trị bảo tồn
Cải tạo, tu bổ, bảo tồn
Quy hoạch - Đô thị
Địa lý- phong thủy
Diễn đàn
Người đẹp
Thời trang
Du lịch
Sức khỏe
Ẩm thực
thư giãn
Mỹ thuật
Góc học tập
Trang ảnh xưa
Góc chụp ảnh
Trang chủ > Nét văn hóa > Văn hóa nghệ thuật >
  bài thơ “MÙA ĐÔNG” bài thơ “MÙA ĐÔNG” , 36phophuong.vn
 
bài thơ “MÙA ĐÔNG”

 ngày 9/11/2016, tôi bất chợt đọc được bài thơ “MÙA ĐÔNG” của Bác sĩ Lâm Thị Hồng Tú (trên FB “Lam Thi Tu”). Như mọi lần đọc “thơ FB”, có lẽ ai cũng thế, chỉ lướt qua rất nhanh; nhưng những con chữ trong bài thơ này dường như có “ma lực” (duyên thơ?), níu lòng tôi lại để rồi phấn chấn theo 20 dòng thơ rất giàu cảm xúc, từ câu đầu đến câu cuối.

MÙA ĐÔNG
 
Lâm Thị Hồng Tú
 
Khi niềm tin thành mây khói
Tôi đi như bóng vật vờ
Khi không còn gì để nói
Tôi về lặng lẽ câu thơ
 
Có chi phía trước đang chờ
Mặt trời nhập nhòa trên đó
Dòng sông nỗi buồn màu đỏ
Mây đen về phía cuối trời
 
Mịt mù bóng chiếc xa xôi
Con chim chiều tàn gãy cánh
Mùa đông mưa vùi gió lạnh
Nắng trời ngoảnh mặt quay lưng
 
Câu thơ dừng lại lưng chừng
Lưng chừng tiếng cười câu hát
Lưng chừng mùa đông lạnh ngắt
Lưng chừng tóc hãy còn xanh
 
Nỗi niềm xám xịt hao hanh
Mùa đông màu mây xoã tóc
Giọt lệ đọng màu khó nhọc
Rơi vào thăm thẳm mùa đông …
 
LTHT
 
Ngay lập tức, tôi có mấy lời post liền lên trên trang chính FB “Lam Thi Tu” (cho “đã”), chứ không như thông thường, mọi người viết ở phần “bình luận” (comment) phía dưới bài thơ.
 
“LQV vừa đọc cả hai phiên bản bài thơ “MÙA ĐÔNG” của bạn. Thật là một sự “chơi” độc đáo.
Trên thế giới FB, từ lâu đã bị “nghẽn mạch” do cái gọi là “thơ”; nhưng Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo, lại có lần nói với LQV là: do cả triệu người “ngộ nhận”, nên cứ cho là “thơ” đó thôi. Vì thế LQV cũng ít khi đọc “thơ FB”. Thế mà giữa “biển thơ” ấy, gặp được một đôi áng thơ hay, thật là quý vô cùng.
Xin chúc mừng!”.
 
Hơn 6 giờ sau, tác giả hồi tin: “Thật cảm động khi đọc những lời khen của bạn. Có thể gọi đây là món quà cho tôi, tăng thêm sự khích lệ cho niềm đam mê của tôi.
Cám ơn bạn rất nhiều…”.
Cùng “lời đẹp” của Người đẹp, tôi còn được nhận thêm một bông hồng trêm chùm lá tươi xanh xum xuê, cắm trong lọ thủy tinh nhỏ xinh xắn (là hình ảnh gửi kèm theo comment trả lời của Lam Thi Tu).
 
***
Bài thơ dung lượng trung bình, tả “MÙA ĐÔNG”, nhưng thực ra là “tả” nỗi buồn của lòng người với bao nguyên cớ rất cụ thể mà… lại “không cụ thể” chút nào – “TRỪU TƯỢNG CÙNG CỰC” về thân phận con người, kiếp người và… “duyên lứa” (trắc trở), như muôn vàn cuộc tình trên thế gian. Bài thơ cũng là “tiếng lòng” rất…”riêng tư”, như “chính ngay của tác giả”. Có lẽ thế. Nếu không, làm sao câu thơ, bài thơ, ý thơ đạt tới độ chân thực “không thể chân thực hơn” và thâm sâu đến vậy?
 
Có thể thống kê ra được các loại “vật liệu” làm nên “MÙA ĐÔNG”: “niềm tin”, “mây khói”, “bóng vật vờ”, “Mặt trời nhập nhòa”, “nỗi buồn màu đỏ”, “Mây đen về phía cuối trời”, “bóng chiếc xa xôi”, “Con chim chiều tàn gãy cánh”, “mưa vùi gió lạnh”, “Nắng trời ngoảnh mặt quay lưng”, “Câu thơ dừng lại lưng chừng / Lưng chừng tiếng cười câu hát / Lưng chừng mùa đông lạnh ngắt / Lưng chừng tóc hãy còn xanh”, “Nỗi niềm xám xịt hao hanh”, “Giọt lệ đọng màu khó nhọc”…
 
“Khi niềm tin thành mây khói” – Ngay câu “phá đề” của bài thơ (mở toang cánh cửa để hồn thơ òa về), chúng ta “bị giáng” một đòn quay quắt tại “điểm hẹn” đầu tiên rồi như chính kẻ phản bội vừa quay về. “Niềm tin” là mỹ từ, tôn quý lắm…; thế mà thành ra “mây khói” thì nó đã nằm trong “đài hóa thân hoàn vũ” (vô vi) mất tong từ bao giờ. Một cặp từ đối lập triệt để, như “trắng” và “đen”, như “lửa” và “nước”… Câu thơ 6 chữ chắc chắn, đăng đối rất chuẩn xác. Hậu quả là “Tôi đi như bóng vật vờ”. Hình ảnh “bóng vật vờ”, đây đã là một “người điên” trong cuộc đời con người ta rồi. Kinh khủng quá. Từ láy “vật vờ” được dùng khá đắt, gợi hình lắm; rất phù hợp với “bóng” của người “mất hồn” đi lang thang vô định mọi chân trời góc biển…
 
“Khi không còn gì để nói / Tôi về lặng lẽ câu thơ” – Câu thơ tài hoa. Hay. Tôi thực sự thán phục câu sau: “Tôi về lặng lẽ câu thơ”. Ở đây (“MÙA ĐÔNG”), rõ ràng “câu thơ” trở nên bản thể như “một con người”, “một lòng người”…; nó cảm nhận được tất cả mọi mất mát vừa xẩy ra. Nhưng câu thơ phía trước “Khi không còn gì để nói”, thật ráo hoãnh, dứt khoát; ngỡ như “chẳng đau đớn gì” – Như vừa phân tích, đó là nghệ thuật “nói giảm” nhằm dồn “trọng lực” (dung lượng cảm nhận nỗi đau) cho câu tiếp theo.
 
Khổ thơ thứ 2, có 2 câu thơ cực kỳ chuyên nghiệp: “Mặt trời nhập nhòa trên đó / Dòng sông nỗi buồn màu đỏ”. Tôi nói “chuyên nghiệp” là biểu lộ sự thán phục của thi hứng Lam Thi Tu. “Mặt trời nhập nhòa”, “nỗi buồn màu đỏ” kéo dài như một “dòng sông máu”, thì quả là “tuyệt tác” của tu từ trong văn chương (độ khéo làm nên câu thơ hay) khi tả tâm trạng “tình duyên đã chết” của con người ta trên đời.
 
Một lần nữa, ta thưởng lãm lại ý của câu thơ này: “Mặt trời nhập nhòa trên đó”. Ai nhìn thẳng vào “mặt trời” được? Không ai cả, bởi sẽ bỏng mắt mất. Thế mà “mặt trời” trong câu thơ này lại “nhập nhòa”, chẳng còn ánh sáng nữa, hoặc là “rất yếu ớt” do lớp “mây” buồn đau phủ quá dày… Chữ “nhập nhòa” mà dùng để chỉ “mặt trời” trong cung bậc cảm xúc (của khung cảnh này) nó thực sự hay một cách… “đột xuất”. Bởi bản thân từ láy “nhập nhòa” là rất bình thường, “kén dùng” (khó dùng) nên ít xuất hiện trong thơ.
 
“Mịt mù bóng chiếc xa xôi
Con chim chiều tàn gãy cánh
Mùa đông mưa vùi gió lạnh
Nắng trời ngoảnh mặt quay lưng”
 
Khổ thơ này từ hơi thơ (chất “men” bên trong) đến hình ảnh, cấu tứ vừa cổ kính, vừa nhẹ nhàng mà lại “rất mới”, do lối thơ 6 chữ thanh thoát, cùng hiệu ứng “cộng hưởng” của ngôn ngữ mang lại.
 
“Mịt mù bóng chiếc xa xôi” là như trong “Chinh phụ ngân khúc” của Đặng Trần Côn – Đoàn Thị Điểm; “Con chim chiều tàn gãy cánh / Mùa đông mưa vùi gió lạnh” là bi lụy, bế tắc của “Phong trào thơ mới – lãng mạn” (1930 – 1945); “Nắng trời ngoảnh mặt quay lưng” thì hiện đại vô cùng. Nó giống “câu thơ dịch” của Tây (“nắng” yếu ớt, tắt tự nhiên mà động thái lại như “con người có ý thức”, không còn “tự nhiên” nữa: “Nắng trời ngoảnh mặt”. Chữ “ngoảnh mặt” mạnh mẽ… ; khiến từ “quay lưng” trở nên… “thừa”, ít giá trị đi. Đó là sự “cố ý” gây “vết” để cho “viên ngọc” càng được đẹp hơn – hoàn mỹ hơn trong câu thơ. Đây không còn là câu thơ theo tư duy nghệ thuật thơ “truyền thống” là vậy).
 
Những hình ảnh: “bóng chiếc xa xôi”, “Con chim chiều tàn gãy cánh”, “mưa vùi gió lạnh”… thật buồn nhưng rất “đắt”. Thế nhưng, nó luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro; như “con dao hai lưỡi”, không giỏi “xoay xở” (không tinh khôn) là câu thơ, bài thơ, tác phẩm văn học, bản nhạc, bức tượng… dễ bị tắc tị, sa vào “hũ nút”.
 
“Câu thơ dừng lại lưng chừng
Lưng chừng tiếng cười câu hát
Lưng chừng mùa đông lạnh ngắt
Lưng chừng tóc hãy còn xanh”
 
Tác giả dùng chỉ một hình dung từ “lưng chừng” tới 4 lần ở cả 4 câu thơ. Thông thường, đây là “điều tối kỵ” trong thơ. Nhưng Lam Thi Tu rất “ranh khôn” (giỏi), khi dùng “hình dung từ trừu tượng” này để dẫn dụ những hình ảnh cụ thể, nên tứ thơ trở nên hợp lý và hay: “Câu thơ dừng lại”, “tiếng cười câu hát”, “mùa đông lạnh ngắt”, “tóc hãy còn xanh”.
 
Cái đặc biệt ở đây là cả một khổ thơ “chuyên trách” chỉ để “thống kê” sự vật (thường khô khan, giản đơn…), nhưng sức biểu cảm (trữ tình) lại rất là sâu đậm do nữ Bác sĩ chuyển sang hình ảnh tươi mới, trẻ trung, không chút u sầu nữa như thể vừa rũ bỏ được một gánh nặng tang bồng mà không phải “tang bồng” vì nó quá truân chuyên của cuộc đời…(*)
 
Rõ ràng Lam Thi Tu dừng sự u uất, buồn đau “tình đoạn tuyệt” đúng lúc, đúng chỗ; khéo léo đến độ…”tinh xảo” của thơ rồi đấy.
 
“Nỗi niềm xám xịt hao hanh
Mùa đông màu mây xoã tóc
Giọt lệ đọng màu khó nhọc
Rơi vào thăm thẳm mùa đông …”
 
Đây là “khổ thơ kết”, gói lại những tâm trạng, nỗi buồn đau đã mở, đã giải bày. Đương nhiên, tác giả phải “nhấn lại” những gì mình vừa trút bỏ – nhưng nào “trút bỏ” được “sạch sành sanh” đâu? Khó lắm. Nó như “duyên phận” đó mà: “Nỗi niềm xám xịt hao hanh”, và như “Mùa đông màu mây xoã tóc / Giọt lệ đọng màu khó nhọc / Rơi vào thăm thẳm mùa đông …”.
Chữ “hao hanh” là hay. Đúng ra là “hanh hao”, nhưng tác giả tráo vị trí của từ tổ này mà thành “hao hanh”, mục đích là để vần với câu thơ cuối cùng ở khổ trên (“Lưng chừng tóc hãy còn xanh”); nhưng nó cũng đưa lại hiệu quả diễn đạt trạng thái “nỗi niềm” (‘thời tiết’) thực sự khó chịu, khó có lối thoát (tổn thương hơn), phù hợp với thành tố đứng trước đó “Nỗi niềm xám xịt”. Sao người Quảng Bình (“Bọ Zin”) mà thấu hiểu, dùng rất khéo từ “rành Bắc” ni ở đây? Ngôn từ “hao hanh” (“hanh hao”) là “đặc sản” của tiếng miền Bắc, người miền Trung, Nam… ít khi dùng, có lẽ khí hậu các miền đất đó không “hao hanh” như đất phương Bắc chăng?…
 
Khổ thơ này có mấy cặp ví cũng tuyệt hay như khổ thơ thứ 2:
“Mùa đông” – “màu mây xoã tóc”; “Giọt lệ – “đọng màu khó nhọc” (đăng đối về hình ảnh lẫn ngữ nghĩa). Cái cụ thể, ví với cái ước lệ đến “siêu thực” là rất khó hợp lý, thế mà Lam Thi Tu thu xếp, dàn hòa được hết.
 
Tôi thấu hiểu tứ thơ “Giọt lệ – “đọng màu khó nhọc” của người nữ Bác sĩ này và thầm thương số phận tình duyên từng rất “long đong” của nàng (chắc thế?). “Giọt lệ” ấy như “giếng sầu đau” nhưng không còn “nước mắt” nữa, vì “đòi phen gió táp, mưa sa” nên nay cạn rồi, chỉ còn lại “màu khó nhọc” của cả đoạn đời đã qua với biết bao gian truân, vất vả đủ bề của người đàn bà rất có ý thức về bản thân và gia đình – Không thể để những bất hạnh lây lan, cần phải chấm dứt cho một cuộc sống mới chính tự tay mình gây dựng lại…
Câu thơ gợi nhớ hình tượng phi thường của một số phận trong Truyện Kiều – Từ Hải: “Triều đình riêng một góc trời / Gồm hai văn võ, rạch đôi sơn hà / Đòi phen gió táp mưa sa / Huyện thành đạp đổ, năm tòa cõi Nam”.
 
Từ cũng xuất phát từ bi kịch nghèo hèn, bị áp bức, rồi tự vùng vẫy thoát ra “làm giặc” mà thành ‘anh hùng’ trong thiên thu. Chính hình tượng Từ là giá trị cốt lõi đầy nhân văn của Truyện Kiều. Tôi mường tượng ra con người bé nhỏ kia, chính là người đàn bà ‘anh hùng’ có vóc dạc phi thường như “Từ Hải” trong văn chương vậy. Nàng đã đúc nên “bức tượng của chính mình” bằng thơ cho con cháu mai sau.
Không biết có “suy diễn’ quá không, nhưng thẩm thấu vẻ đẹp của “MÙA ĐÔNG”, tôi thấy rõ bóng hình của Lam Thi Tu đã vượt qua bao bấn hạn để rạng ngời như hiện tại.
 
Như đã nói, “Bài thơ dung lượng trung bình”, chỉ 20 câu với vẻn vẹn có 120 từ ngữ, thế mà câu chuyện về “MÙA ĐÔNG” được chuyển tải, mở ra với biết bao số phận cá biệt; mà lại điển hình đến mức ngỡ như trong chúng ta, ai ai cũng đã từng – đang và sắp sửa “nếm trải” (đủ mọi mùi vị ngọt bùi, đắng chát “khổ tận trần ai” – có thể “chết người” được).
 
Tác giả khá cao tay, khi chọn thể thơ “6 chữ” thường rất khó thoát ý, không khéo sẽ dễ hụt hẫng; nhưng ưu thế là “đi thẳng” (trực tiếp) đến điều cần biểu đạt, khiến mạch thơ dứt khoát; tránh được “từ thừa” do phải “lựa vần” (gieo vần) trong câu thơ, khổ thơ. Đọc bài thơ, ta thấy “thi pháp” rất mới là thế. Các Thi sĩ chuyên nghiệp, cũng rất “kiêng kỵ” lối thơ này.
 
***
Lam Thi Tu còn độc đáo khi chuyển thể bài thơ “MÙA ĐÔNG” sang kiểu thơ “lục bát”(**).
Thật thú vị.
Lúc này trên màn hình đã đã 23 giờ 15′ (19/3/2017) rồi. Xin hẹn bạn đọc sẽ gặp lại bài “MÙA ĐÔNG – LỤC BÁT” của Lam Thi Tu vào một dịp sau.
 
Hà nội, 23 giờ 51′ – ngày 19/3/2017
LQV.
(Sửa lại lần cuối, lúc 14 giờ 08′ – ngày 20/3/2017).
 
lamhongtu1
Bs Lâm Thị Hồng Tú
 
(*) “Tang bồng” vốn là cách nói tắt của “Tang hồ bồng thỉ”. “Tang” là dâu, “hồ” là cung, “tang hồ” là cung bằng gỗ cây dâu. “Bồng” là “cỏ bồng”, “thỉ” là “tên”, “hồ thỉ” là tên bằng cỏ bồng. Tang hồ bồng thỉ, nghĩa là cung làm bằng gỗ dâu, tên làm bằng cỏ bồng. Tục truyền, ngày xưa ở Trung Quốc, hễ đẻ con trai thì dùng loại cung tên này bắn sáu phát; bắn bốn phát ra bốn hướng, một phát lên trời, còn một phát xuống đất. Ngụ ý của việc làm này là sau này trưởng thành, người con trai sẽ mang chí lớn “hai vai gánh vác sơn hà”, tung hoành dọc ngang giữa trời đất.
 
Với nghĩa ấy, “tang bồng” thường kết hợp với các từ như “Chí tang bồng”, “nợ tang bồng”, “GÁNH TANG BỒNG”…
 
Thành ngữ “thoả chí tang bồng” hay là “phỉ chí tang bồng” dùng để chỉ sự thoả mãn, tự do trong hành động nhằm thực hiện chí lớn, không chịu bất kỳ một sự gò bó, ràng buộc nào.
 
(**) BÀI THƠ “MÙA ĐÔNG” – LỤC BÁT, CỦA LÂM THỊ HỒNG TÚ
 
MÙA ĐÔNG
(chuyển thể lục bát)
 
Lâm Thị Hồng Tú
 
Niềm tin thành khói thành mây
Tôi đi như bóng như thây vật vờ
Còn chi mà nói mà chờ
Về thôi lặng lẽ câu thơ nhói lòng
 
***
Lạnh lùng cay đắng mùa đông
Nhập nhòa trên đó vừng hồng còn đâu
Dòng sông xanh hoá đỏ nâu
Mây đen phía trước phía sau cuối trời
 
***
Mịt mù bóng chiếc xa xôi
Bóng chim gãy cánh chiều rơi mảnh chiều
Mưa tuôn gió dập tiêu điều
Nắng trời ngoảnh mặt, ráng chiều quay lưng
 
***
Lời thơ dừng lại lưng chừng
Tiếng cười câu hát bỗng ngừng chơi vơi
Mùa đông lạnh lẽo xám trời
Lưng chừng mái tóc nửa vời còn xanh
 
***
Nỗi niềm xám xịt hao hanh
Áng mây xoã tóc dỗ dành cô đơn
Quay đi giấu giọt lệ hờn
Rơi vào thăm thẳm nỗi buồn mùa đông…
 
LTHT
 
Nguồn: nguyentrongtao.info
 

  Bình luận của bạn
(*) Họ tên:  
(*) Email:  
(*) Tiêu đề:  
(*) Nội dung:  
Mã: 

Nội dung các bình luận
 

  Các Tin khác
  + Tượng đài kinh doanh tơ lụa đích thực của Việt Nam (Cụ bà Trịnh Văn Bô) đã ra đi… (19/11/2017)
  + Hoàng Diệu Ảo Ảnh. (05/11/2017)
  + Ngôn tình ảnh chuyện: Nếu một ngày buồn thương níu kéo em! (27/10/2017)
  + Thẩm phán Phùng Lê Trân- người đã tuyên Tạ Đình Đề vô tội (25/10/2017)
  + Elinor Ostrom góp tay “giải oan” cho Kim Ngọc (25/10/2017)
  + Đồng chí (25/10/2017)
  + Thời mạt (25/10/2017)
  + Vì lẽ gì Việt Nam ta không bị Hán Hoá? (22/10/2017)
  + Phong trào Nhân Văn Giai Phẩm (22/10/2017)
  + Bài phát biểu chấn động của luật sư Nguyễn Mạnh Tường tại Mặt trận Tổ quốc ngày 30-10-1956 (21/10/2017)
 
 
Trang chủ Nội quy Liên hệ Lên đầu trang  
Xa lộ thông tin    Cuộc sống    Thăng Long-Hà Nội    Phố Hà Nội    Nét văn hóa    Những giá trị bảo tồn    Cải tạo, tu bổ, bảo tồn    Quy hoạch - Đô thị    Địa lý- phong thủy    Diễn đàn    Người đẹp    Thời trang    Du lịch    Sức khỏe    Ẩm thực    thư giãn    Mỹ thuật    Góc học tập    Trang ảnh xưa    Góc chụp ảnh   

vietarch-kiến trúc sáng tạo