36phophuong.vn      Thang long HN
Trang chủ
Thăng Long-Hà Nội
 Di sản văn hóa Thăng Long-Hà Nội
 Hà Nội xưa và nay
Tin tức-Sự kiện
Cuộc sống
Những giá trị bảo tồn
Nét văn hóa
Cải tạo, tu bổ, bảo tồn
Quy hoạch - Đô thị
Địa lý phong thủy
Diễn đàn
Du lịch
Trang ảnh
Trang 3D
Trang chủ > Thăng Long-Hà Nội >
  Thăng Long thời Lý: Các sự kiện lịch sử chính Thăng Long thời Lý: Các sự kiện lịch sử chính , 36phophuong.vn
 
Thăng Long thời Lý: Các sự kiện lịch sử chính

 ĐỊNH ĐÔ THĂNG LONG

Mùa đông, tháng 10 năm Kỷ Dậu (l009), tại kinh đô Hoa Lư (Ninh Bình), Lý Công Uẩn được lập làm vua, sáng lập vương triều Lý (l009-1225), miếu hiệu là Thái Tổ.

Hoa Lư là kinh đô của nước Đại Cồ Việt dưới hai triều Đinh (968-979) và Tiền Lê (980-l009). Đó là một vùng núi non hiểm trở, thích hợp với yêu cầu quân sự của một chính quyền độc lập non trẻ còn phải đối phó với nhiều mối đe dọa của giặc ngoài, thù trong. Với địa thế “Tiến khả dĩ công, thoái khả dĩ thủ” (Tiến có thể đánh thắng, thoái có thể bảo vệ) rất lợi hại của Hoa Lư, Đinh Tiên Hoàng đã đánh bại các thế lực cát cứ địa phương, khôi phục và củng cố nền thống nhất quốc gia, triều Tiền Lê đã đập tan cuộc xâm lược lần thứ nhất của nhà Tống, bảo vệ vững chắc nên độc lập dân tộc. Như vậy trong vòng 41 năm (968-l009), kinh đô Hoa Lư xứng đáng với sự lựa chọn của Đinh Tiên Hoàng và Lê Đại Hành, đã hoàn thành vai trò lịch sử của một Thủ đô tạm thời.

Nhưng khi bước vào đầu thế kỷ XI, những thành quả bảo vệ và củng cố độc lập dân tộc gắn liền với việc thống nhất quốc gia kể từ thời họ Khúc đến họ Ngô, Đinh, Tiền Lê, đã tạo điều kiện đưa đất nước ta, dân tộc ta bước vào một thời kỳ mới . Đó là thời kỳ xây dựng đất nước trên quy mô lớn, thời kỳ phục hưng toàn diện của dân tộc, đặc biệt trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, quân sự, văn hóa-xã hội. Nhiệm vụ đó được đặt lên vai triều Lý, ngay từ khi mới thành lập. Lúc này, Hoa Lư với vị trí và địa thế của nó, không đáp ứng được vai trò kinh đô của triều đại, vai trò trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của đất nước.

Lý Công Uẩn, tức Lý Thái Tổ, vị vua sáng nghiệp của triều Lý, đã nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của kinh đô đối với vận mạng của đất nước và vương triều. Sử gia Ngô Thì Sĩ đã nhìn nhận việc dời đô của Lý Thái Tổ rất tinh tế và chí lý: “Đất Long Đỗ là nơi Cao Biền đóng đô ở đấy, núi Tản Viên chống vững một cõi, sông Phú Lương như hào trời sinh ra, ngàn dặm bằng phẳng trăm họ giàu có, phía tây thông với Sơn Tây, Tuyên Hưng, phía bắc thấu đến Ninh Sóc, Kinh Bắc. Miền đông nam thì vận chuyển bằng thuyền, miền Cần Xương thì liên lạc bằng trạm, là nơi trung tâm của nước, bốn phương chầu về, núi là vạt áo che, sông là dải đai thắt, sau lưng là sông, trước mặt là biển, địa thế hùng mạnh mà hiểm, rộng mà dài, có thể làm cho nơi vua ở hùng tráng, ngôi báu vững bền. Hình thế nước Việt thật không nơi nào hơn được nơi này... Lý Thái Tổ lên ngôi, chưa vội làm việc khác, mà trước tiên mưu tính việc định đô, đặt đỉnh, xét về sự quyết đoán sáng suốt, mưu kế anh hùng, thực những vua tầm thường không thể theo kịp". (Ngô Thì Sĩ: Đại Việt sử ký tiền biên. Nxb KHXH, H. 1997, tr. 194).

Chiếu dời Đô (Ảnh: Bảo tàng lịch sử Việt Nam)

Chiếu dời Đô (Ảnh: Bảo tàng lịch sử Việt Nam)

Đầu năm 1010, Lý Thái Tổ tự tay viết Chiếu dời đô, nói rõ lý do dời đô là “để mưu việc lớn, chọn ở chỗ giữa, làm kế cho con cháu muôn vạn đời” và quyết định chọn “thành Đại La, đô cũ của Cao Vương, ở giữa khu vực trời đất, được thế rồng cuộn hổ ngồi, chính giữa nam bắc đông tây, tiện nghi núi sông sau trước...” làm “thượng đô kinh sư muôn đời”. Chiếu ban ra, tất cả các quan văn võ trong triều đều vui mừng nói: “Bệ hạ vì thiên hạ mà lập kế lâu dài, để trên cho cơ nghiệp to lớn được thịnh vượng, dưới cho nhân dân được giàu của nhiều người, việc lợi như thế ai dám không theo”. (Toàn thư, Sđd, tập I, tr. 241).

Mùa thu, tháng 7 năm Canh Tuất (l010), đoàn thuyền ngự của nhà vua từ Hoa Lư đến Đại La “tạm đỗ thuyền dưới thành, có rồng vàng hiện lên ở thuyền ngự, nhân đó đổi tên gọi là thành Thăng Long (Rồng Bay)” (Toàn thư, Sđd, tập I, tr. 241).

Tên gọi Thăng Long chứa đựng một ý nghĩa lớn lao. Trước hết tên gọi Rồng Bay (Thăng Long) vạch được khí thế mạnh mẽ vươn lên của kinh thành đất nước, của toàn dân tộc. Nhưng tên gọi “Rồng Bay” còn thể hiện một khát vọng hòa bình, đời sống hạnh phúc, tự do của nhân dân Việt Nam thời bấy giờ... Hơn thế nữa, biểu tượng Rồng Bay còn chứa đựng ý niệm thiêng liêng trở về cội nguồn Rồng - Tiên và mơ ước về nguồn nước, mưa thuận gió hòa của cư dân văn minh nông nghiệp trồng lúa nước.

Năm 1010 đã được ghi vào lịch sử Hà Nội như một mốc lớn với hai sự kiện trọng đại: Định đô ở vùng Hà Nội và đặt tên thành Thăng Long. Và từ đó, Thăng Long đã vươn lên như Rồng Bay trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước, xứng đáng là kinh đô của nước Đại Việt, là trung tâm chính trị-kinh tế-văn hóa lớn nhất của cả nước.

LOẠN TAM VƯƠNG

Ở THĂNG LONG

Tháng 2 năm Mậu Thìn (l028), Lý Thái Tổ bị bệnh nặng, biết nhà vua khó qua khỏi, các quan lại trong triều đều đến cung Long Đức xin Thái tử Phật Mã vâng theo di chiếu lên ngôi. Lúc bấy giờ ba vị vương là Đông Chinh vương, Dực Thánh vương, Vũ Đức vương nghe tin, đều đem quân ở phủ mình phục sẵn trong cấm thành. Đông Chinh vương phục ở trong Long Thành, hai vương Dực Thánh, Vũ Đức phục trong cửa Quảng Phúc, đợi Thái tử đến thì đánh úp.

Một lát sau, Thái tử từ cửa Tường Phù vào, đến điện Càn Nguyên biết có biến, sai người hầu đóng hết các cửa điện và sai các vệ sĩ trong cung phòng giữ, nhân đó nói với người xung quanh rằng: “Ta đối với anh em không phụ bạc chút nào. Nay ba vương làm việc bất nghĩa, quên di mệnh của Tiên đế, mưu chiếm ngôi báu, các khanh nghĩ thế nào?”. Nội thị là Lý Nhân Nghĩa nói: “Anh em với nhau, bên trong có thể hiệp sức bàn mưu, bên ngoài có thể cùng nhau chống giặc. Nay ba vương làm phản, thì là anh em hay là kẻ thù? Xin cho bọn thần đánh một trận để quyết được thua”. Thái tử nói: “Ta lấy làm xấu hổ là Tiên đế mới mất, chưa quàn mà cốt nhục đã giết nhau, há chẳng để cho muôn đời chê cười sao?”. Nhân Nghĩa nói: “Thần nghe rằng muốn mưu xa thì phải quên công gần, giữ đạo công thì phải dứt tình riêng, đó là việc Đường Thái Tông và Chu Công Đán bất đắc dĩ phải làm(1).

Khi ấy phủ binh của ba vương vây bức càng gấp, Thái tử liệu không thể ngăn được, nói: “Thế đã như vậy, ta còn mặt mũi nào trông thấy ba vương nữa. Ta chỉ biết làm lễ thành phục đứng hầu Tiên đế, ngoài ra đều ủy cho các khanh cả”. Bọn Nhân Nghĩa bèn ra lệnh cho vệ sĩ trong cung mở cửa ra đánh. Chưa phân được thua, Lê Phụng Hiểu rút gươm chạy thẳng đến cửa Quảng Phúc hô to rằng: “Bọn Vũ Đức vương ngấp nghé ngôi báu, không coi vua nối vào đâu, trên quên ơn Tiên đế, dưới trái nghĩa tôi con, vì thế thần là Phụng Hiểu xin đem thanh gươm này để dâng? Nói rồi, xông thẳng đến chỗ ngựa của Vũ Đức vương. Vương quay ngựa tránh, ngựa quỵ xuống, bị Phụng Hiểu bắt giết. Quân của ba vương thua chạy, quan quân đuổi chém không sót một người nào, chỉ còn hai vương Đông Chinh và Dực Thánh thoát được.

Lê Phụng Hiểu trở về báo tin thắng trận. Thái tử cầm tay Lê Phụng Hiểu mà rằng: “Ta sở dĩ được gánh vác cơ nghiệp to lớn của Tiên đế, toàn vẹn được thân thể của cha mẹ để lại, là nhờ sức của các khanh. Ta thường xem sử nhà Đường có Uất Trì Kính Đức cứu nạn vua, tự nghĩ bề tôi đời sau không ai sánh kịp. Ngày nay gặp biến, mới biết Phụng Hiểu còn trung dũng hơn Kính Đức nhiều?”.

Dẹp xong loạn ba vương, Thái tử Phật Mã lên ngôi trước linh cữu Thái Tổ, tức vua Lý Thái Tông.

BAN BỐ HÌNH THƯ -

BỘ LUẬT ĐẦU TIÊN TRONG LỊCH SỬ

Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Ngày mùng 1, tháng 10 năm Nhâm Ngọ (l042) ban Hình thư. Trước kia việc kiện tụng trong nước phiền nhiễu, quan lại giữ pháp luật câu nệ luật văn, cốt làm cho khắc nghiệt,  thậm chí có người bị oan uổng quá đáng. Vua lấy làm thương xót, sai Trung thư san định luật lệnh, châm chước cho thích dụng với thời thế, chia ra môn loại, biên thành điều khoản, làm thành sách Hình thư của một triều đại, để cho người xem dễ hiểu. Sách làm xong, xuống chiếu ban hành, dân lấy làm tiện. Đến đây phép xử án được bằng thẳng rõ ràng, cho nên mới đổi niên hiệu là Minh Đạo (Làm sáng tỏ đạo – TG)” (Toàn thư, Sđd, tập I, tr. 263).

Hình thư do triều Lý ban hành là bộ luật đầu tiên trong lịch sử dân tộc, là cái mốc quan trọng trong lịch sử pháp quyền Việt Nam. Nó chứng tỏ rằng bộ máy chính quyền trung ương tập quyền đã có đủ các thiết chế hoàn bị. Theo Lịch triều hiến chương loại chí - Văn tịch chí của Phan Huy Chú, thì Hình thư đời Lý Thái Tông gồm có 3 quyển, bây giờ thất truyền. Tuy ngày nay, chúng ta không được đọc bộ Hình thư đời Lý, nhưng qua những pháp lệnh được chép lại trong sử cũ, chúng ta cũng có thể thấy rõ tính chất của pháp luật thời Lý.

Pháp luật thời Lý là pháp luật bảo vệ quyền lợi của Nhà nước phong kiến tập trung và của giai cấp quý tộc quan liêu, nó củng cố chế độ đẳng cấp, bảo vệ tư hữu. Nhưng để tập trung toàn bộ quyền lực vào tay Nhà nước, đại biểu là vua, pháp luật nhà Lý cũng đã có phần nào hạn chế sự bành trướng thế lực của lớp quan liêu quý tộc nói chung và cũng đã có những biện pháp tết trong việc bảo đảm sản xuất nông nghiệp.

VỤ ĐỖ ANH VŨ LỘNG QUYỀN

THỜI LÝ ANH TÔNG

Đỗ Anh Vũ là viên đại thần dưới đời Lý Anh Tông (l138-1175), em trai bà Đỗ Thái hậu (mẹ Lý Thần Tông). Đỗ Anh Vũ làm đến chức Thái úy, quyền cao chức trọng, nhưng tính tham bỉ, lại tư thông với Lê Thái hậu (vợ Lý Thần Tông, mẹ Anh Tông), làm bại hoại triều chính.

Năm 1141, Đỗ Anh Vũ đi đánh dẹp cuộc nổi loạn của Thân Lợi, cả phá đối phương ở Quảng Dịch, bắt sống hai thủ lĩnh là Dương Mục và Chu Ái. Cậy có nhiều công lao, Đỗ Anh Vũ càng ngày càng lộng quyền.

Trước đây, khi Vũ mới vào hậu Lý Thần Tông, vì khéo nịnh hót, lại có vẻ đẹp trai nên được hoàng hậu là Lê Thị chú ý. Khi Lý Thần Tông mất, Anh Tông còn nhỏ, Đỗ Anh Vũ được dịp cùng Lê Thái hậu tư thông, thường mải miết truy hoan trong cung Quảng Từ - cung do Lê Thái hậu lập riêng để tư thông với Anh Vũ. Việc xấu xa ấy dần dân cũng bị bại lộ, các quan trong triều như: Vũ Đái, Dương Tự Minh mưu cùng Nguyễn Dương bắt Vũ, giao cho quan Đình úy xét án làm nhơ bẩn nơi cung cấm. Nhưng nhờ có Lê Thái hậu khéo lo lót bao che, nên Vũ được nhẹ tội, Nguyễn Dương tức giận mắng Vũ Đái tham của đút lót rồi nhảy xuống giếng tự tử.

Chẳng bao lâu, Đỗ Anh Vũ được phục hồi chức Thái úy phụ chính như cũ và càng được yêu mến tin dùng hơn. Do đó, Vũ càng lộng quyền gây họa, ban phúc, cho sống hoặc giết chết, không chút kiêng sợ, hằng ngày nghĩ kế báo thù. Đỗ Anh Vũ giết chết Vũ Đái, Đồng Lợi, còn Phò mã Dương Tự Minh phải đầy đi nơi xa xôi hiểm độc... nên lòng người đều oán ghét.

TÔ HIẾN THÀNH PHÒ GIÚP ẤU CHÚA

Tô Hiến Thành là một danh thần, một nhà chính trị có tài dưới thời Lý Anh Tông (1138- 1175). Ông là người tài kiêm văn võ, có công bình định xứ sở, phá tan quân Ngưu Hống, đánh đuổi quân Ai Lao xâm lấn. Do đó, ông được giữ chức Thái úy.

Tô Hiến Thành lại hết lòng sửa sang việc chính trị, mở mang văn hóa, cho tu bổ, tôn tạo Văn Miếu. Sử cũ cho biết, trong thời kỳ ông nắm binh quyền, vua Lý Anh Tông thường đi tuần các đảo ngoài biển, xem khắp hình thế núi sông, sai vẽ bản đồ địa giới các phiên bang nam, bắc, muốn biết được sự đau khổ của nhân dân và đường đi các nơi xa gân. Vì thế, sử gia Ngô Thì Sĩ rất ca ngợi ông: “Từ khi Anh Vũ chết, Tô Hiến Thành làm Thái úy, nắm binh quyền. Từ đấy mới tuyển quân chọn tướng, cho quan võ luyện tập đánh giặc phá trận. Vua cũng tự cưỡi ngựa bắn cung ở sân bắn và thân đi tuần các đảo ngoài biển. Việc quân cơ việc, phòng biên giới một phen chấn chỉnh...”. (Ngô Thì Sĩ: Đại Việt sứ ký tiền biên, Sđd, tr. 292).

Năm ất Mùi (l175), Lý Anh Tông phong cho Tô Hiến Thành làm Thái phó, Bình chương quân quốc trọng sự (Tể tướng), giúp đỡ Thái tử. Khi sắp mất, Lý Anh Tông trao gửi Thái tử Long Cán cho ông giúp dập. Ông nhận lời. Bấy giờ, Thái hậu muốn lập con mình là hoàng tử Long Xưởng lên ngôi vua, đem vàng đến hối lộ, bị ông cương quyết từ chối.

Tô Hiến Thành vâng di chiếu quyết lập Thái tử Long Cán mới 3 tuổi lên nối ngôi, tức Lý Cao Tông và hết lòng phò tá vua mới. Từ đó, tình hình trong nước càng yên ổn.

Năm Kỷ Hợi (l179), Tô Hiến Thành mất. Khi ông bệnh nặng, có Tham tri chính sự là Vô Tán Đường ngày đêm săn sóc. Thái hậu cùng vua đến thăm, hỏi rằng: “Nếu như ông không may thì ai là người có thể thay ông?”. Tô Hiến Thành thẳng thắn trả lời: “Trần Trung Tá có thể thay được?”. Thái hậu nói: “Tán Đường ngày nào cũng hầu thuốc thang, ông lại không nói đến, thế là tại sao?”. Ông trả lời: “Vì bệ hạ hỏi người nào đáng thay tôi, nên tôi nói Trung Tá, nếu như bệ hạ hỏi người nào hầu việc ăn uống thì không phải Tán Đường còn ai?”. Thái hậu khen là trung, nhưng cuối cùng không theo lời của ông. Sử gia Ngô Sĩ Liên bàn về Tô Hiến Thành có nói: “Tô Hiến Thành nhân việc ký thác con côi, hết sức trung thành, khéo xử trí khi biến cố. Tuy có lúc bị sóng gió lay động xô đẩy, nhưng vẫn vững như cột đá sừng sững giữa dòng, cuối cùng khiến trên yên, dưới phải thuận, không thẹn với phong độ của đại thần ngày xưa...”.

PHÒNG TUYẾN SÔNG CẦU

BẢO VỆ THĂNG LONG

Đến những năm 70 của thế kỷ XI, vương triều Tống bên Trung Quốc lộ ý đồ xâm lược Đại Việt. Thành Ung Châu ở tỉnh Quảng Tây và hai cửa biển Khâm Châu, Liêm Châu ở tỉnh Quảng Đông trở thành những căn cứ, những hành dinh và đang trong thời kỳ chuẩn bị ráo riết cho cuộc chiến tranh đánh vào nước ta.

Lúc bấy giờ tổng chỉ huy các lực lượng vũ trang Đại Việt là Lý Thường Kiệt. Ông thấy không thể ngồi yên để bị động chờ quân Tống đến xâm lược mà phải chủ động tiến công trước để đẩy kẻ thù vào thế bị động ngay từ đầu và giành những điều kiện có lợi nhất cho cuộc kháng chiến của dân tộc. Ông nói: “Ngồi yên đợi giặc không bằng đem quân ra trước để chặn mũi nhọn của giặc” (Việt điện u linh). Với tư tưởng tiến công để tự vệ ấy, Lý Thường Kiệt tổ chức một cuộc tập kích nhằm tiêu diệt các cơ sở chuẩn bị chiến tranh của kẻ thù. Mục đích này đạt được vào mùa xuân năm 1076. Những căn cứ quân sự và hậu cần mà nhà Tống xây dựng từ lâu ở Ung Châu, Khâm Châu và Liêm Châu bị quân Lý phá hủy. Trong cuộc hành quân này, để tranh thủ sự đồng tình của nhân dân Trung Quốc, Lý Thường Kiệt đã cho phân phát ở các nơi quân ta đi qua những tờ “Lộ bố” tuyên bố cho nhân dân Trung Quốc biết mục đích của cuộc hành quân chỉ là để tự vệ để chặn âm mưu xâm lược nước Đại Việt mà triều đình nhà Tống đã sắp xếp từ lâu đồng thời cũng là để trù khử cho nhân dân Trung Quốc những kẻ “bày ra phép thanh miêu, trợ dịch khiến mọi người khổ cực, mà riêng chúng thoả được cái mẹo nuôi thân béo mập”(1). Trên tấm bia ở chùa làng Ngọ Xá (huyện Hà Trung, Thanh Hóa) do Nhã Bá Sĩ soạn, nói về sự nghiệp Lý Thường Kiệt có đoạn ghi. “Dân Tống thấy lời Lộ bố đều vui mừng, đem trâu ninh khao quân ta. Mỗi lúc dân Tống thấy hiệu cờ Thường Kiệt ở đàng xa thì nói đó là quân của họ Lý người nước Nam”.

Vua quan nhà Tống bị đòn đau như vậy mà vẫn không tỉnh ngộ, chúng càng xúc tiến công việc xâm lược. Khoảng giữa năm 1076, một binh lực gồm 10 vạn bộ binh, 1 vạn con ngựa, 20 vạn dân phu được chuyển dần xuống biên giới Việt - Trung. Tổng chỉ huy là Quách Quỳ, phó là Triệu Tiết, đều là những tướng lĩnh cự phách. Đồng thời vua Tống sai sứ giả sang vận động vua Champa quấy rối biên giới phía nam nước ta.

Những hoạt động đó không lọt qua cặp mắt tinh đời của Thái úy Lý Thường Kiệt. Ông định ra một kế hoạch kháng chiến chủ động, sáng tạo. Ông đích thân đi kinh lý vùng biên giới phía Nam, tăng cường khả năng phòng thủ. (Do đó, khi quân Tống xâm lược, vua Champa có phái quân đến biên giới nhưng không dám gây sự). Ông bố trí các lực lượng làm nhiệm vụ kiềm chế và bước đầu tiêu hao sinh lực địch ở vùng biên giới Việt - Trung.

Do tất cả các đường bộ từ Đông Bắc tiến về Thăng Long đều phải qua sông Cầu nên Lý Thường Kiệt chủ trương xây dựng một phòng tuyến dọc theo sông này. Đường lên sông Câu thực chất là đường bảo vệ Thăng Long. Trên bờ nam sông, ta xây dựng một phòng tuyến từ Đạo Thượng, Cẩm Hà (nay thuộc huyện Sóc Sơn, ngoại thành Hà Nội) đến sông Lục Đầu Phòng tuyến này dài tới năm sáu chục ki lô mét, có chỗ là thành đất đắp cao tới bốn năm mét, có chỗ là bãi chông, bãi chà ken dày đặc, có chỗ tận dụng ngay địa thế rừng rậm hoặc đầm lầy để phòng ngự. Riêng ở nhũng bến bãi nằm trên các trục đường đi về Thăng Long như ngã ba Xà (tên nôm làng Hương La, nay đổi là Phương La) hoặc làng Như Nguyệt chỗ sông Cà Lồ chảy vào sông Cầu, nơi đầu mối những đường bộ từ phía bắc về gần Thăng Long nhất (khoảng ba chục ki lô mét) thì phòng tuyến tất phải được đầu tư nhiều hơn. Theo sách Việt điện u linh chính Lý Thường Kiệt đã từng có lúc đóng bản doanh ở Như Nguyệt, do đó mới có chuyện ngâm bài thơ Nam quốc sơn ở đền thờ Trương Hống gần ngã ba Xà. Ngày ấy từ Như Nguyệt về Thăng Long có con đường chạy qua các làng Hương La Đông, Yên Vĩ, Yên Phụ (ba làng này ngày nay thuộc huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh), sang Thụy Lôi, Vân Điềm, Thiết Bình, Cổ Châu, Thiết Úng, Thạc Quả, Dục Tú, Tiên Hội, rồi theo đò Đông Ngàn hoặc Xuân Canh mà sang Thăng Long (các làng trên nay đều thuộc huyện Đông Anh, ngoại thành Hà Nội). Con đường ấy nhân dân vẫn gọi là đường cái quan. Phòng tuyến sông Cầu thật chẳng khác nào tấm áo giáp bảo vệ Thăng Long. Trên phòng tuyến này đã diễn ra những trận đánh quyết liệt, quyết định số phận của quân Tống. Tháng 1 năm 1077 chúng tới bờ bắc sông Cầu, cố gắng vượt sông nhưng không nổi. Tiếp đó là ba tháng trời chúng bị chặn đứng trước phòng tuyến của ta, lại bị quân ta thường xuyên tập kích. Cộng thêm vào đó là nạn thiếu thốn lương thực và bệnh tật thì phát sinh tràn lan. Do vậy đoàn quân viễn chinh này tinh thần hoang mang, sức chiến đấu bị giảm sút nghiêm trọng. Trong tình trạng đó, Lý Thường Kiệt tổ chức phản công. Quân địch chết quá nửa, tiến thoái lưỡng nan, vì tiến công thì không đủ sức mà cứ cố thủ hoặc rút chạy thì có nguy cơ bị tiêu diệt hoàn toàn. Nắm được thực lẽ đó, Lý Thường Kiệt chủ động đặt vấn đề “giảng hòa” để mở lối thoát cho quân địch nhằm sớm chấm dứt chiến tranh trong điều kiện có lợi nhất cho dân tộc. Quân Tống vội vã nhận “giảng hòa” và rút quân ngay.

Cuộc kháng chiến chống quân Trung Quốc xâm lược năm 1077 đã kết thúc với thắng lợi hoàn toàn thuộc về dân tộc ta. Phòng tuyến sông Cầu thực tế là phòng tuyến bảo vệ kinh đô Thăng Long, trái tim của cả nước.

Theo Lịch sử Thăng Long Hà Nội, Nguyễn Vinh Phúc (cb)- Lê Văn Lan- Nguyễn Minh Tường, NXB Trẻ, TP HCM, 2005.


(1) Lý Thế Dân là con thứ của Đường Cao Tổ (Lý Uyên). Thế Dân đã gúp cha dẹp nạn cát cứ, thống nhất nước Trung Hoa. Thái tử là Kiến Thành (con trưởng) mưu giết Thế Dân. Việc không thành, Thế Dân đã giết thái tử, sau được vua cha cho nối ngôi túc là Đường Thái Tông. Còn Chu Công Đán đời Chu đã phải giết em là Quản Thúc, đầy một em khác là Thái Thúc để giữ ngôi vua cho cháu là Thành Vương.

(1) Thời đó vua Tống theo kế sách của tể tướng Vương An Thạch đặt ra lệ thanh miêu (cho dân vay tiền lúc lúa còn xanh để lúc chín thì thu lãi) và trợ dịch (bắt mọi người nộp tiền thay cho việc thu phen) để bóp nặn nhân dân Trung Quốc.

 

 


  Bình luận của bạn
(*) Họ tên:  
(*) Email:  
(*) Tiêu đề:  
(*) Nội dung:  
Mã: 
68571

Nội dung các bình luận
 

  Các Tin khác
  + Thông báo (03/08/2019)
  + Sông, hồ ở Hà Nội xưa và nay (22/07/2011)
  + Café cổ Hà Nội xưa và nay (22/07/2011)
  + Quá trình đô thị hóa trong thời Pháp thuộc (15/07/2011)
  + Hà nội - Xưa và Nay - Sứ quán Trung Quốc (14/06/2011)
  + Hà nội - Xưa và Nay - Góc phố Hàng Khay (14/06/2011)
  + Hà nội - Xưa và Nay - Toà soạn báo Hà Nội Mới (14/06/2011)
  + Chợ phiên Thăng Long-Hà Nội xưa và nay (15/04/2011)
  + Số phận tượng thần tự do Hà nội (10/04/2011)
  + Chùa Hòe Nhai xưa và nay (23/03/2011)
 
 
Trang chủ Nội quy Liên hệ Lên đầu trang  
Thăng Long-Hà Nội    Tin tức-Sự kiện    Cuộc sống    Những giá trị bảo tồn    Nét văn hóa    Cải tạo, tu bổ, bảo tồn    Quy hoạch - Đô thị    Địa lý phong thủy    Diễn đàn    Du lịch    Trang ảnh    Trang 3D   

vietarch-kiến trúc sáng tạo