36phophuong.vn      Thang long HN
Trang chủ
Thăng Long-Hà Nội
 Di sản văn hóa Thăng Long-Hà Nội
 Hà Nội xưa và nay
Tin tức-Sự kiện
Cuộc sống
Những giá trị bảo tồn
Nét văn hóa
Cải tạo, tu bổ, bảo tồn
Quy hoạch - Đô thị
Địa lý phong thủy
Diễn đàn
Du lịch
Trang ảnh
Trang 3D
Trang chủ > Thăng Long-Hà Nội >
  Thăng Long thời Mạc: Các sự kiện lịch sử chính Thăng Long thời Mạc: Các sự kiện lịch sử chính , 36phophuong.vn
 
Thăng Long thời Mạc: Các sự kiện lịch sử chính

 SỰ SUY YẾU CỦA TRIỀU LÊ

Bước sang thế kỷ XVI, nhà Lê bắt đầu suy yếu, đặc biệt dưới các triều vua Uy Mục (1505 - 1509), Tương Dực (1510 - 1516), nhà nước trung ương sa sút nhanh chóng. Vua mất phẩm chất. Uy Mục “đêm nào cũng cùng cung phi vui đùa uống rượu quá độ, khi rượu say thì giết cung phi” Hàng ngày y sai bọn thái giám đánh nhau để xem. Sự tàn bạo của y đã khiến cho một sứ thần nhà Minh gọi là “vua quỷ”, họ tự hỏi “không biết ý trời ra sao mà lại sinh ra tên vua quỷ này”. Cũng thời vua này, bọn quý tộc bên ngoài kết thành bè cánh lộng hành, giết hại nhiều công thần và tổn thất không cùng phe phái như Thượng thư Đàm Văn Lễ, Đô ngự sử Nguyễn Quang Bật... Năm 1509, những người trong hoàng tộc bị thất thế chạy vào Thanh Hóa tập hợp lực lượng kéo về Thăng Long giết Uy Mục và phe cánh, đưa Lê Oanh, một cháu khác của Lê Thánh Tông, lên ngôi vua tức là Tương Dực.

Tương Dực ( 1510 - 1516) tính tình hung bạo, lại hoang dâm vô độ, tư thông cả với các cung nhân triều trước. Sứ thân nhà Minh nhận xét Tương Dực: “Nhà vua tính hiếu dâm như tướng lợn, loạn vong không còn lâu nữa”. Bấy giờ, nhiều năm mất mùa, nhân dân đang bị đói khổ, nhưng Tương Dực vẫn huy động nhân dân xây dựng nhiều cung điện, như Đại điện 100 gian, Cửu trùng đài cao chót vót bên bờ hồ Tây... Việc xây dựng diễn ra trong nhiều năm, nhân dân khổ cực. Vua chỉ lo ăn chơi, mọi quyền hành rơi vào tay tướng Trịnh Duy Sản. Năm 1516, Duy Sản giết Tương Dực, lập Quang Trị mới 8 tuổi lên ngôi vua; chưa được 3 ngày lại phế Quang Trị, lập Lê Y (chắt của Thánh Tông) lên ngôi vua, tức Lê Chiêu Tông (1516 - 1522), có niên hiệu là Quang Thiệu. Chiêu Tông không sáng suốt, thiếu quyết đoán nên các đại thần nhưNguyễn Hoằng Dụ, Trịnh Tuy, Trần Chân, Hoằng Duy Nhạc... tranh giành quyền lợi, đem quân đánh lẫn nhau, tấn công vào cả kinh thành nhiều lần. Chiêu Tông phải bỏ chạy ra ngoài.

Lợi dụng sự suy yếu, đổ nát của triều đình trung ương, bọn quan lại cường hào các địa phương ra sức bóc lột nhân dân. Do đó, đã dẫn đến các cuộc khởi nghĩa của nông dân ở một số nơi. Chỉ kể quanh Thăng Long, như ở Kinh Bắc có cuộc khởi nghĩa của Thân Duy Nhạc (1511); ở Sơn Tây, Hưng Hóa có cuộc nổi dậy của Trần Tuân (1511) và của Phùng Chương (1516) v.v... Lớn nhất là cuộc khởi nghĩa của Trần Khảo (còn có tên là Cao) nổ ra năm 1516, ban đầu lấy căn cứ địa là vùng Đông Triều (Quảng Ninh) sau đánh lan ra Kinh Bắc, Hải Dương tiến sát đến bến Bồ Đề bên tả ngạn sông Hồng (nay là phường Bồ Đề, quận Long Biên) và cuối cùng chiếm được Thăng Long. Vua Chiêu Tông phải chạy vào Thanh Hóa. Trần Cảo lên ngôi vua đặt niên hiệu là Thiên úng. Nhưng ít lâu sau các đạo quân phù Lê từ Thanh Hóa tiến ra, chiếm lại kinh thành và Trần Cảo phải chạy vê núi Trâu (Quế Dương, Bắc Ninh).

Nhưng vừa xong vụ Trần Cảo thì trong triều lại nổ ra cuộc chiến giữa các quyền thần.

Năm 1517, Trần Chân thuộc phái Trình Tuy đánh bại Nguyễn Hoàng Dụ và nắm giữ binh quyền. Năm 1518, Chiêu Tông giết Trần Chân. Phe phái của Chân nổi dậy đánh phá kinh thành. Năm 1520, Chiêu Tông phải cho người sang Hải Dương triệu Mạc Đăng Dung vẻ giúp và trao mọi binh quyền cho ông ta. Sự kiện này dẫn đến việc nhà Mạc thay nhà Lê.

CUỘC ĐẢO CHÍNH CUNG ĐÌNH: NHÀ MẠC THAY NHÀ LÊ

Mạc Đăng Dung từng dự thi môn vật, trúng Đô lực sĩ, đời Uy Mục được sung vào Đô túc vệ, sau được thăng chức Đô chỉ huy sứ vệ Thiên vũ. Năm Hồng Thuận thứ 3 (1511), đời Tương Dục, được phong tước Vũ Xuyên bá.

Năm 1516, Mạc Đăng Dung được cử giữ chức Trấn thủ Sơn Nam, gia phong Phó tướng Tả đô đốc. Năm 1518, ông được thăng tước Vũ Xuyên hầu, được cử ra Trấn thủ Hải Dương. Tại đây, ông thu thập hương binh, chỉnh đốn đội ngũ, quân số ngày thêm nhiều.

Năm 1520, Lê Chiêu Tông hy vọng dẹp bọn quyên thân đang nhiễu loạn triều chính, đã cho vời Mạc Đăng Dung về triều, phong chức Tiết chế các doanh thủy lục quân 13 đạo. “Thế là tất cả binh mã tinh nhuệ trong thiên hạ, đều thuộc quyền Đăng Dung” (Lê Quý Đôn: Đại Việt thông sứ).

Năm 1521, Mạc Đăng Dung tự phong lên tước Nhân Quốc công, vẫn giữ chức Tiết chế các doanh thủy lục quân 13 đạo.

Sau khi Mạc Đăng Dung một mình gia binh quyền, từng dẹp được nhiều giặc lớn, uy quyền ngày càng thịnh, được lòng người trong nước, những người thân của ông đều giữ các chức quan trọng trong triều đình. Vì thế Mạc Đăng Dung không cần giữ gìn, e dè gì nữa. Khi ông đi đường bộ thì dùng lọng phượng bông vàng, khi đi đường thủy thì dùng thuyền rồng dây lụa, tự do ra vào nơi cung cấm không hề nể sợ. Ông lại tự tiện giết hết những người tâm phúc của vua là bọn thị vệ Nguyễn Cấu, đô lực sĩ Minh Sơn bá Nguyên Thọ.

Trước sự bức bách ấy, đêm 23 tháng 7 năm Quang Thuận thứ 7 (1522), vua Lê Chiêu Tông cùng với mấy người thân tín bỏ chạy khỏi kinh thành, tới Mông Son, huyện Minh Nghĩa, trấn Sơn Tây (sau là huyện Tùng Thiện, nay thuộc huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây). Ngày hôm sau, Mạc Đăng Dung mới biết, một mặt ông sai quân ngăn chặn các ngả đường quan trọng, rồi điểm binh đuổi bắt vua, mặt khác lập hoàng đệ Xuân - là em Chiêu Tông - lên làm vua.

Năm 1525, Mạc Đăng Dung bắt được vua Chiêu Tông ở động An Nhân, châu Lang Chánh - Thanh Hoa, đưa về kinh sư. Cuối năm 1526, Mạc Đăng Dung sai Phạm Kim Bảng bí mật giết vua Chiêu Tông tại phường Đông Hà, kinh thành Thăng Long. Đầu năm 1527, Mạc Đăng Dung tự thăng lên tước Thái sư An Hưng vương. Vua Lê Cung Hoàng (hoàng đệ Xuân) thấy quyền thế của họ Mạc lớn quá, muốn lấy lòng Đăng Dung nên sai Tùy Dương hầu Vũ Hữu, Lan Xuyên bá Phan Đình Tá và Trung sứ Đỗ Hữu Đễ cầm cờ tiết đem kim sách, áo mũ thêu rồng đen, đai dát ngọc, kiệu tía, quạt vẽ và lọng tía, đến Cổ Trai tuyên bố mệnh vua ban cho Đăng Dung.

Tháng 5, Mạc Đăng Dung từ Cổ Trai tới kinh bái yết vua Cung Hoàng, rồi từ cửa Đông Hoa ra cửa Đại Hưng trở về Cổ Trai. Ngày 15 tháng 6 năm Đinh Hợi (1527), Mạc Đăng Dung ép vua Lê Cung Hoàng nhường ngôi cho mình. Sử cũ chép cảnh lên ngôi của Mạc Đăng Dung tại kinh thành Thăng Long hôm ấy như sau: “Bây giờ ban thứ trăm quan đã yên chỗ, nhưng chưa có tờ chiếu nhường ngôi. Đăng Dung hạ lệnh cho Lại bộ thượng thư Trường Phu Duyệt đứng thảo. Nhưng Phu Duyệt quắc mắt, mắng Đăng Dung: “Thế nghĩa là gì?”. Đăng Dung bèn sai Đông các đại học sĩ Nguyễn Văn Thái phải làm cho xong tờ chiếu. Đăng Dung bèn sai tuyên đọc lời chiếu rồi xưng hoàng đế, đổi năm này (Đinh Hợi - 1527) làm năm Minh Đức thứ 1” (Cương mục, tập II Sđd, tr. 98).

Mạc Đăng Dung từ làng Cổ Trai vào đóng tại thành Thăng Long, đặt Hải Dương làm Dương Kinh. Từ tổ 7 đời là Mạc Đĩnh Chi đến cha là Mạc Hịch đều truy tôn làm đế và hậu. Lập con là Đăng Doanh làm Thái tử, phong em trai Mạc Quyết làm Tán vương, em trai Mạc Đốc làm Tư vương, em gái là Mạc Thị Ngọc Huệ làm công chúa...

Năm 1528, Bích Khê hậu Lê Công Uyên mưu bàn với Nguyễn Ngà, Nguyễn Thọ Trường cùng dấy quân chống Mạc Đăng Dung. Họ tấn công vào cửa Chu Tước của thành Thăng Long nhưng không được, phải chạy vào Thanh Hóa. Sau Lê Công Uyên bị Lê Thiệu, người châu Thúy Đả (Thanh Hóa) giết chết, do đó nghĩa binh tan vỡ. Bấy giờ trong kinh thành Thăng Long và ngoài các trấn, lòng dân đều hoang mang. Mạc Đăng Dung sợ lòng người tưởng nhớ nhà Lê cũ, sinh ra biến, nên bộ máy nhà nước đều noi theo chế độ triều Lê. Kinh thành Thăng Long dần dần yên ổn trở lại. Có điều là phạm vi cai trị của nhà Mạc ban đâu gồm toàn bộ lãnh thổ Đại Việt thời Lê sơ, nhưng từ năm 1546, khi chính quyền của nhà Lê trung hưng - sử gọi là Nam triều - được thành lập ở Thanh Hóa thì phạm vi cai trị của nhà Mạc bị thu hẹp từ vùng đất Ninh Bình trở ra Bắc.

KINH THÀNH THĂNG LONG NÁO LOẠN - THÁI TỂ LÊ BÁ LY BỎ MẠC THEO LÊ

Lê Bá Ly là một danh tướng của nhà Mạc, quê ở huyện Đông Sơn, trấn Thanh Hóa. ông vốn xuất thân là Hiệu úy, dưới quyền chỉ huy của Mạc Đăng Dung.

Đến đời Mạc Phúc Nguyên ( 1547 - 1561) - là đời vua Mạc thứ tư - Lê Bá Ly được phong tước Phụng quốc công, có công giúp Mạc Kính Điển dẹp yên cuộc khởi loạn của Mạc Chính Trung (con thứ của Mạc Đăng Dung) và Phạm Tử Nghi. Năm 1548, Mạc Phúc Nguyên thăng Lê Bá Ly lên làm chức Thái tế. Nguyên nhân để Thái tế Lê Bá Ly bỏ triều Mạc chạy vào Thanh Hóa đầu hàng nhà Lê, được Lê Quý Đôn chép rõ trong bộ Đại Việt thông sứ như sau: “Bá Ly là một vị lão tướng trọng thần, chuyên giữ binh quyền, tham dự triều chính, ai cũng tôn phục. Sau khi đánh phá Phạm Tử Nghi, uy danh càng thêm lừng lẫy! Con trai là Phổ Quận công Lê Khắc Thận, lấy trưởng công chúa Cẩm Hương, lại giữ quyền Tiết chế lộ Sơn Nam thượng, được gia thêm chức Chưởng phủ sự, cháu ông là Vạn An hầu, lấy Hiển Nghi Thái trường công chúa, gia thăng Chưởng kim ngô vệ, con rể là Văn Phái hầu Nguyễn Quyện giữ vệ Phù Nam, con nuôi là Tả Ngự hầu giữ vệ Cẩm y, con trai thứ là Thuận Lương hầu công quản đội cấm binh, thông gia là Thứ Quận công Nguyễn Thiến, giữ chức Thượng thư bộ Lại, Đồng Giang hầu Bùi Trụ giữ chức Tán lý quân vụ. Thân đảng kết liên, khí thế rực rỡ, bao nhiêu hùng binh trọng trấn, đều nắm trong tay, bao nhiêu bầy tôi văn võ, đều ra từ cửa nhà Bá Ly. Phạm Quỳnh và Phạm Dao, nguyên trước xuất thân trong hàng đầy tớ nhà Bá Ly, bây giờ chúng được hiển đạt, lại đem lòng oán ghen, muốn tính sự hãm hại Bá Ly” (Lê Quý Đôn: Đại Việt thông sử. Nxb KHXH,

Năm 1978, tr. 289).

Phạm Quỳnh, nguyên quán ở làng Đặng Xá, huyện Thanh Lâm, đến cư ngụ tại thôn Bùi Tây, xã Thịnh Liệt, huyện Thanh Trì, nhà nghèo làm nghề bán trà. Khi Mạc Kính Điển lên 2 tuổi, thường đau ốm quặt quẹo luôn, muốn tìm người vú nuôi. Lê Bá Ly bèn sai vợ Phạm Quỳnh vào cung, làm vú nuôi Kính Điển. Đến đây, Mạc Kính Điển giữ quyên bính, nghĩ tới tình nghĩa nuôi dưỡng của vợ Quỳnh, cho nên trọng dụng cả hai cha con Phạm Quỳnh. Mạc Kính Điển cho Phạm Quỳnh giữ quyền Tiết chế Đông đạo, cho Phạm Dao trấn thủ Sơn Nam, gia hàm Thái bảo. Năm 1548, Phạm Quỳnh được phong tước Vinh Quận công, Phạm Dao lúc đầu phong tước Phú Xuyên hầu, sau thăng lên Văn Quận công (Lê Quý Đôn: Đại Việt thông sử. Nxb KHXH, H.1978, tr. 289).

Năm 1551, Phạm Quỳnh và Phạm Dao gièm với Mạc Kính Điển, bảo Lê Khắc Thận (con trai Lé Bá Ly) có âm mưu phản nghịch. Mạc Kính Điển ngạc nhiên, nói: “Quốc gia trông cậy vào Tường phụ (tức Lê Bá Ly) như quả núi cao, các ông không nên nói những lời như vậy”. Biết không lay chuyển được Kính Điển, cha con Phạm Quỳnh lại đem ý trên gièm pha với Mạc Phúc Nguyên. Ngày 12 tháng 2 năm Tân Hợi (1551), Phạm Quỳnh, Phạm Dao tự ý sai quân vây nhà Lê Bá Ly ở trại Hồng Mai (nay là phố Bạch Mai, quận Hai Bà Trưng - Hà Nội) vào lúc nửa đêm. Chúng lại sai người vây nhà thông gia của ông là Đô ngự sử Nguyễn Thiến. Nhưng lúc ấy, Nguyễn Thiến đi dự họp chưa về, còn Lê Bá Ly thì ở trong trại quân, cho nên đều không bắt được. Đến gần sáng, người đày tớ nhà Bá Ly, tên là Đồi Môi ra ngoài, thấy có quân vây, vội trở vào báo. Bá Ly bèn thu thập người nhà và các quân sĩ, đóng cửa cố thủ, để chờ em đến cứu viện. Một lúc sau, Vạn An hầu, Văn Phái hầu và Tả Ngư hầu, mỗi người mang theo 2.000 cấm binh tới hộ vệ, giao chiến ác liệt với quân Quỳnh, Dao. Quỳnh, Dao thua chạy. Vạn An hầu bèn đem quân đón Bá Ly về đóng tại Thịnh Liệt, rồi Lê Khắc Thận công từ đồn Vân Sàng kéo về hội binh.

Lê Bá Ly cùng các tướng dưới trướng bèn dẫn quân chiếm giữ cửa Chu Tước. Kinh thành cực kỳ náo loạn ! Mạc Phúc Nguyên thấy thế bức bách, hoàng sợ, bỏ thành chạy qua sông, di cư đến Bồ Đề (nay là phương Bồ Đề, quận Long Biên - Hà Nội) rồi sai sứ thân dụ Bá Ly bãi binh. Lê Bá Ly không nghe, bảo phải bắt cha con Quỳnh, Dao, giải đến nộp cho ông, mới chịu bãi binh. Mạc Phúc Nguyên không nghe lời yêu cầu của Bá Ly, liền dẫn quân đi về phương Đông. Lê Bá Ly nổi giận, mắng nhiếc Phúc Nguyên, rồi trở vẻ kinh thành. Tháng 3 năm Tân Hợi (1551), Lê Bá Ly đem 1 vạn 4 nghìn quân các trại Tây Nam, cùng với Nguyễn Thiến, Nguyễn Quyện và con trai là Lê Khắc Đôn, Lê Khắc Thận vào Thanh Hóa đâu hàng vua Lê và họ Trịnh.

Vua Lê Trung Tông rất mừng! úy lạo và nhận cho hàng, lại thăng Lê Bá Ly chức Thái tể, tước Phụng Quốc công. Lúc ấy Lê Bá Ly đã 77 tuổi. Triều đình nhà Lê thấy là một vị kỳ lão, có danh vọng, ai cũng tôn kính. Khi vào yết kiến Thái sư Trịnh Kiểm, Lê Bá Ly giữ hết lễ, rất cung kính. Thái sư Trịnh Kiểm tiếp đãi cũng rất kính cẩn tận lễ. Sách Đại Việt thông sử chép: “Từ đấy, thanh thế quân nhà vua rất là lừng lẫy! Phúc Nguyên thấy vậy, lấy làm lo sợ, bao nhiêu binh quyền ủy cả cho Kính Điển, để tính kế bảo vệ trong kinh đô cho tới các xứ miền Đông” (Lê Quý Đôn: Đại Việt thông sử, Sđd, tr. 293).

NHÀ MẠC ĐẮP THÊM THÀNH ĐẠI LA

Về cấu trúc thành lũy, thành Đông Kinh thời Lê sơ, hay Thăng Long thời Mạc vẫn dựa trên cơ sở thành Thăng Long - Đông Đô thời Lý, Trần. Vòng thành ngoài cùng vẫn mang tên thành Đại La. Năm 1477, Lê Thánh Tông cho xây dựng lại vòng thành này trên cơ sở thành có. Vòng thành thứ hai được chính thức gọi là Hoàng thành. Năm 1474 và 1500, nhà Lê cho sửa chữa và xây dựng lại tường thành phía tây và phía đông của Hoàng thành. Năm 1516, Hoàng thành được mở rộng thêm về phía đông “đắp thành to rộng mấy nghìn trượng”.

Vòng thành trong cùng gọi là Cung thành hay Phượng thành. Năm 1490, vòng thành này cũng được mở rộng. Năm 1588, để đề phòng những cuộc tiến công của quân Lê - Trịnh, nhà Mạc lo tăng cường hệ thống thành lũy phòng vệ quanh thành Thăng Long. Nhà Mạc huy động dân bốn trấn vùng đồng bằng “đắp thêm ba lớp lũy ngoài thành Đại La ở Thăng Long, bắt đầu từ phường Nhật Chiêu (nay là phường Nhật Tân, quận Tây Hồ), vượt qua Hồ Tây, qua Cầu Dừa (nay là Ô Chợ Dừa thuộc phường Thịnh Quang, quận Đống Đa) đến Cầu Dền (nay là Ô Cầu Dền, phường Cầu Dền, quận Hai Bà Trưng), suốt đến Thanh Trì, giáp sông Nhị Hà, cao hơn thành Thăng Long đến vài trượng, rộng 25 trượng, đào 3 lớp hào, đều trồng tre, dài tới mười mấy dặm để bọc phía ngoài thành" (Toàn thư, tập III Sđd, tr.164).

Trên bản đồ Hà Nội hiện nay, thành này bắt đầu từ Nhật Tân, chạy theo đường phía tây Hồ Tây, qua Bưởi, Ô Cầu Giấy, theo đường Giảng Võ - La Thành, qua Ô Chợ Dừa, Kim Liên, rồi theo đường Đại Cồ Việt qua Ô Cầu Dền, theo đường Trần Khát Chân, tới Ô Đống Mác, ra tới chân đê sông Hồng. Thành này rộng hơn thành Đại La và đưa toàn bộ khu Hồ Tây vào trong phạm vi thành Thăng Long đời Mạc.

Năm 1592, sau khi đánh bại quân Mạc ở Thăng Long, Mạc Mậu Hợp phải chạy sang bên kia sông Nhị Hà, chiếm cứ một dải sông để tự vệ, Trịnh Tùng toan dẫn quân qua sông tiến đánh. Nhưng bấy giờ Trịnh Tùng trúng kế hoãn binh của hàng tướng nhà Mạc là Nguyễn Quyện: “Lệnh cho các quân san phẳng lũy đất thành Đại La dài đến mấy nghìn trượng, phát hết bụi rậm gai góc, cày lấp hào rãnh, phá hết thành đất bằng, không mấy ngày là xong. Đây là mưu của Nguyễn Quyện để làm kế hoãn binh cho họ Mạc” (Toàn thư, tập III, Sđd, tr.173)... Tuy nhiên, quân Trịnh trong thực tế cũng không san bằng hết được toàn bộ vòng thành Đại La, ngày nay còn thấy nhiều đoạn thành Đại La do nhà Mạc đắp khá rõ, đó là: đoạn đường đất cao chạy từ chợ Bưởi cho đến Cầu Giấy, hoặc đoạn đường chạy từ Ô Chợ Dừa cho đến đầu khu tập thể Kim Liên (đầu phố Đào Duy Anh ngày nay), hoặc đoạn đường đê chạy từ đầu Ô Cầu Dền (Bạch Mai) đến Ô Đống Mác vừa được san đi để làm đường Trần Khát Chân...

Theo Lịch sử Thăng Long- Hà Nội, Nguyễn Vinh Phúc (cb), Lê Văn Lan, Nguyễn Minh Tường, NXB Trẻ, Tp.HCM, 2005.

 


  Bình luận của bạn
(*) Họ tên:  
(*) Email:  
(*) Tiêu đề:  
(*) Nội dung:  
Mã: 
23661

Nội dung các bình luận
 

  Các Tin khác
  + Thông báo (03/08/2019)
  + Sông, hồ ở Hà Nội xưa và nay (22/07/2011)
  + Café cổ Hà Nội xưa và nay (22/07/2011)
  + Quá trình đô thị hóa trong thời Pháp thuộc (15/07/2011)
  + Hà nội - Xưa và Nay - Sứ quán Trung Quốc (14/06/2011)
  + Hà nội - Xưa và Nay - Góc phố Hàng Khay (14/06/2011)
  + Hà nội - Xưa và Nay - Toà soạn báo Hà Nội Mới (14/06/2011)
  + Chợ phiên Thăng Long-Hà Nội xưa và nay (15/04/2011)
  + Số phận tượng thần tự do Hà nội (10/04/2011)
  + Chùa Hòe Nhai xưa và nay (23/03/2011)
 
 
Trang chủ Nội quy Liên hệ Lên đầu trang  
Thăng Long-Hà Nội    Tin tức-Sự kiện    Cuộc sống    Những giá trị bảo tồn    Nét văn hóa    Cải tạo, tu bổ, bảo tồn    Quy hoạch - Đô thị    Địa lý phong thủy    Diễn đàn    Du lịch    Trang ảnh    Trang 3D   

vietarch-kiến trúc sáng tạo