36phophuong.vn     
Trang chủ
Xa lộ thông tin
Cuộc sống
Thăng Long-Hà Nội
Phố Hà Nội
Nét văn hóa
 Văn nghệ online
 Văn hóa nghệ thuật
 Văn hóa xã hội
 Nhân vật và sự kiện
Những giá trị bảo tồn
Cải tạo, tu bổ, bảo tồn
Quy hoạch - Đô thị
Địa lý- phong thủy
Diễn đàn
Người đẹp
Thời trang
Du lịch
Sức khỏe
Ẩm thực
thư giãn
Mỹ thuật
Góc học tập
Trang ảnh xưa
Góc chụp ảnh
Trang chủ > Nét văn hóa > Văn hóa nghệ thuật >
  Mái đình làng trong văn hóa Việt Mái đình làng trong văn hóa Việt , 36phophuong.vn
 
Mái đình làng trong văn hóa Việt

 Mỗi làng quê Việt Nam đều có những nét văn hóa mang đậm bản sắc dân tộc, trong đó đình làng là một nét văn hóa tiêu biểu. Không chỉ là nơi thờ phụng Thành hoàng, vị thần của làng mà còn là trung tâm sinh hoạt văn hoá gắn bó với một cộng đồng cư dân và mang đặc trưng văn minh lúa nước…

 
Đôi nét về kiến trúc đình làng
 
Đình làng thường cổ kính, trang nghiêm và là công trình kiến trúc văn hoá mang tính dân tộc. Kiến trúc đình làng vì vậy cũng mang đậm dấu ấn văn hoá độc đáo và tiêu biểu cho điêu khắc truyền thống. Thường được xây dựng ở nơi cao ráo, thoáng mát, nóc có tượng đôi rồng lượn tranh lấy quả châu, trên các thanh xà ngang là những bức hoành phi câu đối. Điện thờ là nơi thiêng liêng nhất để thờ thần, thành hoàng làng hoặc những người có công đóng góp, xây dựng giúp dân làng vượt qua khó khăn.
 
Là kho tàng hết sức phong phú của điêu khắc Việt Nam trong lịch sử. Điêu khắc cũng phát triển mạnh ở nhiều kiến trúc tôn giáo khác, nhưng không ở đâu biểu hiện hết mình như ở đình làng. Điêu khắc ở đình làng không những là nguồn tài liệu để nghiên cứu lịch sử Mỹ thuật Việt Nam, mà còn là nguồn tài liệu để nghiên cứu đời sống ngày thường cũng như tâm hồn của người nông dân đất Việt.
 
Đình làng ở Việt Nam xây dựng dựa trên kiến trúc truyền thống của Châu Á, được dựng bằng những cột lim tròn, to và thẳng tắp đặt trên những hòn đá tảng lớn. Kèo, xà ngang, xà dọc được làm bằng gỗ lim, tường xây bằng gạch nhưng cũng có khi không xây tường. Mái đình lợp ngói múi hài 4 góc có 4 đầu đao cong vút lên như đuôi chim phượng uốn cong. Sân đình lát gạch, trước đình có hai cột đồng trụ vút cao, trên đình có một con nghê lúc nào cũng nhe răng cười. Gian giữa có hương án thờ vị thần của làng. Chiếc trống cái được đặt trong đình thúc giục người dân về đình tụ tập để bàn tính công việc của làng, của nước.
 
Có thể nói thế kỷ 16 – 18 chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của đình làng với những tên đình danh tiếng như: đình Thổ Hà (Bắc Giang), đình Tây Đằng và Chu Quyến (Ba Vì, Hà Nội), đình Hoành Sơn (Nam Đàn, Nghệ An), đình Thổ Tang ( Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc)… Có lẽ, những đình cổ nhất nước ta vẫn là những ngôi đình mang kiến trúc theo hình chữ Nhất như đình Tây Đằng, đình Lỗ Hạnh. Riêng đình Lỗ Hạnh, nguyên xưa là chữ nhất, nhưng qua các đời sau tu bổ đã thêm hậu cung nên đình thành chữ Đinh.
 
Theo quan niệm kiến trúc, đình là một kiến trúc công cộng, rộng mở để chờ đón bất cứ người con nào của đất Việt. Với ý nghĩa như thế, đình làng Việt Nam chính là nơi không phân biệt giàu sang nghèo hèn, là nơi thể hiện rõ nhất văn hóa hiện thực của đời sống nhân dân.
 
Đình làng trong văn học
 
Khi nói đến văn hoá làng – nét văn hoá của nông thôn Việt Nam, người ta liên tưởng ngay tới những hình ảnh rất đặc trưng “Cây đa, bến nước, sân đình” làm nên biểu tượng của làng quê. Trong sâu thẳm tâm thức người Việt, hình ảnh mái đình cây đa luôn ở vào cung bậc nhạy cảm nhất và có sức gợi nhớ mãnh liệt. Đình làng – một mảnh hồn quê, một nét đẹp của xóm làng Việt Nam, từ lâu đã in vào tâm khảm mỗi con người và toả sáng trong bài ca dao mà ai cũng biết đến:
 
“Hôm qua tát nước đầu đình
 
Để quên chiếc áo trên cành hoa sen”
 
Hình ảnh đình làng hiện lên thân thuộc và gần gũi, gắn bó với cuộc sống đời thường của từng người dân quê. Tuy nhiên, trong câu ca dao trên, đình làng chỉ là cái cớ, chỉ là hư ảo. Đình làng thường được xây dựng và tôn tạo tại vị trí trung tâm nhất của làng. Xung quanh đình thường có những cây cổ thụ bóng râm mát, một hồ sen và một khoảng sân rộng rãi. Cây cổ thụ như biểu tượng thiêng liêng của sức sống vững bền, chở che cho dân làng. Vậy thì cạnh đình làng đâu phải cánh đồng để chàng trai kia đi tát nước. Chắc chắn rồi, chàng trai vác gầu ra đấy không phải để tát nước. Chàng đang ngóng chờ người thương nên phải giả vờ vác gầu đi tát nước. Một tình cảm đẹp đẽ và thiêng liêng nhưng luôn giấu kín ở trong lòng. Đó là sự kín đáo, nhuần nhị trong cách thể hiện tình cảm của những đôi trai gái ngày xưa:
 
“Qua đình ngả nón trông đình,
 
Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu”.
 
Thực vậy, trong cộng đồng cư dân người Việt có lẽ không có cái gì gắn bó, thân thiết hơn là mái đình làng. Đình làng không chỉ là nơi thờ phụng thành hoàng làng, những người có công với dân làng mà còn là nơi diễn ra những sinh hoạt cộng đồng của người dân. Vào những ngày có công việc quan trọng, đình làng là nơi tụ họp, diễn ra các lễ nghi truyền thống. Mỗi năm lại có các ngày lễ lớn, có lễ hội diễn ra tại đình làng. Vào ngày thường nhật, đình làng là nơi trò chuyện của các cụ già, nơi vui chơi của các cháu nhỏ, thậm chí còn là nơi hẹn hò của các cặp nam thanh nữ tú. Mái đình luôn luôn là nơi bắt đầu của những mối tình thơ mộng:
 
“Trúc xinh trúc mọc đầu đình,
Em xinh em đứng một mình cũng xinh.”
 
Ngay cả việc miêu tả nhan sắc của một cô gái đẹp, người ta cũng liên tưởng tới hình ảnh cây trúc và mái đình làng quê. Một sự so sánh tưởng chừng phi lý nhưng rất hợp lý, cái hợp lý của thế giới tình yêu, và ngẫu nhiên tác tạo nên một bức tranh đầy thi vị: cây trúc – mái đình – người đẹp. Nghĩa là khi bước vào trong bức tranh ấy, người đẹp càng đẹp càng xinh hơn:
 
“Trăng thanh nguyệt rạng mái đình
Chén son chưa cạn sao tình đã quên?”
 
Ca dao tục ngữ diễn tả nhiều khía cạnh khác nhau của xã hội, bao gồm các đề tài hài hước, châm biếm, gia đình và trữ tình. Nhưng nhất là về trữ tình, đã được các thanh niên nam nữ thời xưa, dùng để tỏ tình, thổ lộ tình yêu thầm kín của mình với người mình yêu. Thông qua ca dao, mái đình cứ ẩn ẩn hiện hiện giống như một ẩn dụ của văn hóa làng:
 
“Toét mắt là tại hướng đình
Cả làng toét mắt, riêng mình em đâu”.
 
Đình làng thường quay mặt về hướng Nam. Chỉ có những trường hợp đặc biệt vì lý do phong thủy, đình mới quay mặt theo hướng khác. Thông qua cách bố trí mỗi ngôi đình, ta có thể thấy được những quy tắc địa lý – tín ngưỡng của người Việt xưa, thường được gọi là phép phong thuỷ. Người Việt xưa tin rằng, thế đất và hướng đình tốt xấu có thể tác động tới sự thịnh suy, lành dữ của cả làng. Vì thế, khi dựng đình, bao giờ người ta cũng rất chú trọng tới sự hài hoà của hai yếu tố Âm và Dương. Tuy nhiên, ở câu ca dao này còn có ngụ ý chính để nói về cái tốt, nhưng là tốt riêng rẽ thì trở thành xấu và ngược lại, cái xấu, nhưng là xấu tập thể thì trở nên bình thường.
 
Hình ảnh đình làng trong ca dao, tục ngữ Việt Nam rất đa dạng, là biểu tượng rất đặc trưng trong văn học dân gian về làng quê. Cái nôi đưa ta đi đến những chân trời mới và chào đón ta ngày trở về với quê hương bản quán, đó chính là mái đình làng thân thuộc!
 
Theo Phạm Thị Nhung – NTBD
 
 
 
 
 

  Bình luận của bạn
(*) Họ tên:  
(*) Email:  
(*) Tiêu đề:  
(*) Nội dung:  
Mã: 

Nội dung các bình luận
 

  Các Tin khác
  + VÕ THỊ THẮNG: có một nụ cười khác (18/09/2017)
  + Trần Xuân Bách: Chủ nghĩa xã hội thật sự là gì? (18/09/2017)
  + Thanh Tùng đẹp và buồn của "Thời hoa đỏ" (14/09/2017)
  + Nhớ một Ba Sàm qua thơ Nguyễn Trọng Tạo. (11/09/2017)
  + Ca trù phía sau Đàn Phách (11/09/2017)
  + Về thăm lại Bà mẹ Gio Linh (08/09/2017)
  + Truyện ngắn Vũ Thư Hiên - Đêm mất ngủ (07/09/2017)
  + Ngôn tình ảnh chuyện (06/09/2017)
  + Văn hóa chửi (18/08/2017)
  + Con gái Hà Nội ở đâu? (18/08/2017)
 
 
Trang chủ Nội quy Liên hệ Lên đầu trang  
Xa lộ thông tin    Cuộc sống    Thăng Long-Hà Nội    Phố Hà Nội    Nét văn hóa    Những giá trị bảo tồn    Cải tạo, tu bổ, bảo tồn    Quy hoạch - Đô thị    Địa lý- phong thủy    Diễn đàn    Người đẹp    Thời trang    Du lịch    Sức khỏe    Ẩm thực    thư giãn    Mỹ thuật    Góc học tập    Trang ảnh xưa    Góc chụp ảnh   

vietarch-kiến trúc sáng tạo